5

IFHTP


Leave a comment

Dịch: Antidisciplinary – Joi Ito

Bài Antidisciplinary của Joi Ito là bài viết định hình các thứ dự án được hình thành ở MIT Media Lab, một sân chơi sáng tạo vô cùng thú vị, và theo mình là một mô hình quan trọng để hình dung, nếu muốn thực sự quan tâm đến sáng tạo giá trị ở VN–trước một hệ thống giáo dục và nghiên cứu còn-lâu-mới-đủ-lực, trước dòng chảy máu chất xám không ngừng nghỉ, và một chính phủ bị động trước các xu hướng của thế giới. Mình không ám chỉ mọi người nên “cut corners” và chỉ chú trọng vào phản ngành, nhưng để thấy kể cả khoa học cũng có những giới hạn hiện tại, chứ không phải tuyệt vời ông mặt trời và được lôi ra không cần phản biện như một số nhóm thảo luận chỉ-có-ở-Việt-Nam có nói gần đây: bài viết sẽ là một cách nhìn thú vị về khoảng trống khoa học chưa lấp đầy được. Bỏ qua động thái chính trị hoá kiến thức của các nhóm thảo luận nêu trên, mình cũng ngờ ngợ rằng chính bởi sự thiếu thốn một nền học vấn quy củ và công khai nên dường như mới có một sự ngây thơ về các phương thức và hệ thống của phương Tây–một kiểu đứng núi nọ trông núi kia. Mình cho rằng sự ngây thơ này không hoàn toàn xấu: nó cho con người khả năng nhạy cảm và đắm đuối trong hiện thực, hơn là câu chuyện lúc nào cũng phải optimize và tôn thờ các giá trị tư bản. Có thể chính đây sẽ là một góc văn hoá riêng của quê nhà để giúp định hình lại việc nghiên cứu và sáng tạo giá trị theo một đường hướng mới.

Cuối cùng thì, cái gì cũng cần chất lượng. Bản thân Joi Ito, một người hai lần bỏ học, cũng đã từng phát biểu rằng các bạn không nên bắt chước ổng, vì những thứ ông đạt được không phải vì ông không có bằng đại học, mà là ông đạt được chúng mặc dù ông không có bằng đại học. Việc quan trọng vẫn là tìm giá trị, và những cá nhân/ nhóm thực sự có đủ nền tảng để tìm giá trị.

______________________________________________________________

Phản Ngành  – Joi Ito

2 Tháng 10 Năm 2014

Một trong những từ đầu tiên tôi được nghe thấy khi mới tham gia vào Media Lab là “phản ngành” (antidisciplinary). Từ này được vạch ra dưới dạng điều kiện trong một thông cáo tìm một vị trí giảng dạy mới cho Media Lab. Làm việc một cách liên ngành là hiện tượng nhiều người từ các ngành học khác nhau làm việc cùng nhau. Một dự án phản ngành, mặt khác, không phải là tổng của một đám các ngành khác nhau mà là một cái gì hoàn toàn mới—khái niệm “phản ngành” ở đây thật khó để định nghĩa đơn giản. Nhưng với tôi từ này có nghĩa là một ai đó hoặc một cái gì đó mà không khớp với một ngành học thông thường—một lĩnh vực nghiên cứu với những từ ngữ, những nền tảng, và những cách thức của riêng nó. Phần lớn các học giả bị đánh giá bằng số lần họ đăng bài trong các tạp chí khoa học danh giá và có bình duyệt [1]. Bình duyệt thường bao gồm các học giả có ảnh hưởng trong ngành học của bạn thẩm định thành quả nghiên cứu và quyết định xem nghiên cứu này có quan trọng và độc đáo hay không. Kiểu cấu trúc này thường dẫn đến động thái những nhà nghiên cứu tập trung nhiều vào việc gây ấn tượng tốt với một nhóm nhỏ các chuyên gia trong ngành của mình hơn là mạo hiểm táo bạo với một cách tiếp cận vấn đề mới mẻ. Động thái này củng cố cái cliche của việc các học giả tập trung càng ngày càng nhiều vào càng ngày càng ít những kiến thức giá trị. Nó tạo ra một hiện tượng siêu-đặc biệt hoá khi mà nhiều người trong các mảng kiến thức khác nhau gặp rất nhiều khó khăn trong việc hợp tác—hoặc thậm chí là trao đổi—với những người khác ngành. Với tôi, nghiên cứu phản ngành giống như là quan sát nổi tiếng của nhà toán học Stanislaw Ulam rằng việc học vật lý phi-tuyến tính giống như việc học những “động vật phi đại tượng” [2].

Media Lab tập trung vào “sự độc đáo, khả năng ảnh hưởng, và sự màu nhiệm.” Những gì sinh viên và giảng viên của chúng tôi làm nên là duy nhất. Chúng tôi không nên làm những gì mà người nào khác đang làm. Nếu có nhóm nào khác bắt đầu làm cùng việc đó, chúng tôi nên dừng lại. Mọi thứ chúng tôi làm đều nên có tầm ảnh hưởng. Cuối cùng, mọi thứ nên thôi thúc chúng tôi trở nên đam mê và nên nằm ngoài giới hạn của những bồi đắp ý tưởng thông thường [3]. “Màu nhiệm” có nghĩa là chúng tôi sẽ nhận làm những dự án cho chúng tôi nhiều cảm hứng. Ví dụ, trong nhóm Mẫu Giáo Suốt Đời [4], các nhà nghiên cứu thường mô tả “Bốn P của Học một cách Sáng Tạo”, là “Projects” (Dự Án), “Peers” (Bạn/ Đồng Nghiệp), “Passion” (Đam Mê), và Play (Chơi). Khái niệm chơi cực kỳ quan trọng với việc học một cách sáng tạo. Có rất nhiều nghiên cứu thể hiện rằng các phần thưởng hoặc áp lực có thể thúc đẩy mọi người “sản xuất”, nhưng học và suy nghĩ sáng tạo cần cái “không gian” mà việc chơi tạo ra. Áp lực và phần thưởng thường làm bé đi cái không gian đó đó, và vì thế, giới hạn việc học sáng tạo.

 

Kiểu học giả mà chúng tôi đang tìm kiếm tại Media Lab là những người không khớp với bất kỳ một ngành nào nào, có thể vì họ nhảy giữa—hoặc thậm chí đơn giản là vượt ra ngoài khuôn khổ của—nhiều ngành. Tôi thường nói rằng nếu bạn có thể làm được những việc bạn muốn trong bất kì một phòng nghiên cứu hoặc khoa nghiên cứu nào khác, bạn nên hoàn thành chúng ở đó. Chỉ đến với Media Lab khi bạn không thể tìm ra được một nơi nào khác để làm việc bạn cần làm. Chúng tôi là nhà của những kẻ không phù hợp với mọi nơi—nhưng người phản ngành.

 

Khi tôi nghĩ về “không gian” mà chúng tôi đã tạo nên, tôi thích hình dung một trang giấy khổng lồ đại diện cho “toàn cục khoa học”. Những ngành nghiên cứu sẵn có là những điểm đen được chấm trên trang giấy. Còn không gian khổng lồ bị bỏ trắng giữa những điểm chấm này đại diện cho kiến thức phản ngành. Rất nhiều người muốn chơi và nghịch ngợm trên không gian trắng này, nhưng có rất ít tiền trợ cấp cho việc này, và nó càng khó hơn để tìm được một vị trí nhiệm kỳ [5] mà không có một cái mỏ neo độc ngành lên một trong những chấm đen nào đó.

 

Trong khi chúng tôi tiếp tục cố gắng tiếp cận với việc giải quyết các vấn đề càng ngày càng nan giải mà đòi hỏi nhận thức từ rất nhiều ngành và góc độ khác nhau, sự phân biệt và phân hoá giữa các ngành học dường như chỉ tạo thêm cản trở và phá hoại. Chẳng hạn hệ thống phức tạp, chính là cơ thể người, đã trở nên đa ngành một cách không tưởng. Chúng ta nên thật sự cùng nhau làm việc trong “Một Khoa Học” thống nhát, nhưng thay vì vậy chúng ta là một cái tranh ghép của nhiều ngành kiến thức, thậm chí đôi khi không nhận ra rằng chúng ta đang cùng nhìn vào một bài toán, vì ngôn ngữ giữa các ngành thật khác nhau và các kính vi phân thì dường như không được đồng nhất.

 

Trung Tâm Mô Phỏng Sinh Học Cực Đoan (Center for Extreme Bionics) tại Media Lab—dẫn đầu bởi Hugh Herr, Ed Boyden, Joe Jacobson, và Bob Langer—sử dụng mọi thứ từ cơ khí chế tạo cho đến sinh học tổng hợp cho đến thần kinh học trong hành trình xoá bỏ một nhóm các loại dị tật. Tập hợp các ngành khác biệt này sẽ không bao giờ khớp với bất kì một phòng nghiên cứu hay viện nghiên cứu truyền thống nào.

 

Nhà đồng sáng lập của Media Lab, Nicholas Negroponte đã từng phát biểu chơi chữ với châm ngôn về học thuật rằng các giáo sư phải “xuất bản hoặc bị xoá sổ” [6]. Các giảng viên của Media Lab, theo ông, phải “trình diễn sản phẩm hay là chết”[7]. Tôi đã đưa ra một thay đổi nhỏ cho cụm từ này- “triển khai hay là chết”[8]. Tôi muốn tất cả các giảng viên và sinh viên tại Media Lab bắt đầu nghĩ về việc những công trình của họ sẽ triển khai ngoài đời thật như thế nào, và nếu họ có thể tự triển khai chúng, càng tuyệt vời.

 

Tôi nghĩ triết lý về việc cùng nhau làm việc trên những dự án lớn sẽ đem những nhà nghiên cứu đến với nhau từ nhiều ngành khác nhau – và cùng nhau xây dựng một nền khoa học thống nhất thay vì những ngành khoa học rời rạc. Chúng ta sẽ vẫn cần các ngành, nhưng tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta tập trung vào một sứ mệnh cao hơn và tập trung vào những thay đổi cần thiết trong học thuật và tài trợ vốn cho nghiên cứu để cho phép nhiều người có thể làm việc trong những mảng trắng giữa các ngành khoa học – khoảng không gian phản ngành.

 

Update: một thành viên của Media Lab đã chỉ ra rằng các ngành thì giống như những đường bao rất chung chung và phần lớn những bài báo nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất thường nằm trong các không gian phản ngành và mang tính đột phá.

 

NOTE từ người dịch

[1] peer review

[2] non-elephant animals

[3] incremental thinking (versus monumental thinking) chỗ này dịch hơi khó, ban đầu tớ định dùng suy nghĩ thông thường, để đối lại với phi thường, nhưng thế thì lại mất nghĩa của từ incremental. Incremental Thinking là lối suy luận xây dựng từ các ý tưởng/ giả định có sẵn ban đầu, nhưng tương đối tuyến tính/ theo cấp số cộng. Ở đây không non-incremental thinking theo Joi chắc là những cách tiếp cận vấn đề không mang tính bồi đắp lên nhau này, mà có thể là tái định hình các giả định/ ý tưởng ban đầu.

[4] Lifelong Kindergarten

[5] tenured

[6] publish or perish (tiếc rằng không thể dịch và giữ được sự “chơi chữ” của [6], [7], và [8], nhưng tớ nghĩ cũng khá sát về âm điệu!)

[7] demo or die

[8] deploy or die


Leave a comment

Dịch: A Taste for Makers – Paul Graham

I spent the first months of this 2017 reading all of Paul Graham’s essays, and needless to say the experience changed me–for better or worse. Since I’ve been translating quite the self-help mix, I thought I’d also add this, as tribute, and as another fun thing to do. Translating this huge thing got me to interact with the essay on a much deeper (and perhaps more minute/trivial) level.

Taste for Makers – PG

________________________________________________________________

Khiếu thẩm mỹ[0] cho những nhà sáng chế – Paul Graham

Tháng 2 năm 2002

“Các chống đối về thẩm mỹ của Copernicus liên quan đến [các điểm tâm sai] đã cung cấp động cơ thiết yếu cho việc bác bỏ hệ thổng Ptolemy của ông…”

– Thomas Kuhn, Cuộc Cách Mạng của Copernicus

“Tất cả chúng tôi đã được huẩn luyện bởi Kelly Johnson và tin tưởng một cách cuồng tín vào đòi hỏi khăng khăng của anh ấy rằng một cái máy bay mà trông đẹp thì sẽ bay đẹp tương tự.”

-Ben Rich, Skunk Works

“Tính đẹp là bài kiểm tra dầu tiên: không có chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí.”

-G.H. Hardy, Lời Xin Lỗi của một Nhà Toán Học

Tôi vừa nói chuyện với một anh bạn giáo sư ở MIT. Ngành của anh ta đang lên và hằng năm anh bị ngập trong các hồ sơ apply của các nghiên cứu sinh tiềm năng. “Phần lớn đám này đều có vẻ thông minh,” anh bình luận. “Cái mà tôi không thể chắc chắn là nếu họ có chút khiếu thẩm mỹ gì không.”

Khiếu thẩm mỹ. Bạn không hay nghe về từ [1] này. Vậy mà chúng ta luôn cần cái khái niệm đứng sau nó, dù ta có gọi đó là gì đi nữa. Ý anh bạn tôi là anh muốn các sinh viên vừa giỏi về mảng kỹ thuật, nhưng đồng thời cũng có thể dùng kiến thức kỹ thuật ấy để thiết kế những thứ thật đẹp.

Các nhà toán học gọi các công trình nghiên cứu tốt là “đẹp,” và dĩ nhiên, dù bây giờ hoặc trong quá khứ, điều này cũng đúng với các nhà khoa học, các kỹ sư, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, nhà văn, và các hoạ sĩ. Liệu đây có phải là một sự trùng hợp khi tất cả mọi người dùng cùng một từ, hay là có một cái gì đó thực sự chung giữa ý của mỗi nhóm? Nếu thực sự có một cái gì đó tương đồng, liệu chúng ta có thể dùng các khám phá trong một ngành để hỗ trợ một ngành khác?

Với những người có thiết kế các sản phẩm, đây không phải là những câu hỏi lý thuyết. Nếu thực sự có một cái gì đó là cái đẹp, chúng ta cần có khả năng nhận dạng nó. Chúng ta cần khiếu thẩm mỹ tốt để tạo ra những sản phẩm tốt. Thay vì coi cái đẹp là một khái niệm trừu tượng bay bổng, để nói nhảm hoặc né tránh tuỳ theo cách mỗi người cảm nhận về các khái niệm trừu tượng bay bổng, hãy thử suy nghĩ về nó như một câu hỏi thực tế: làm thế nào để tạo ra những sản phẩm tốt?

Nếu bạn nhắc đến khiếu thẩm mỹ ngày nay, rất nhiều người sẽ bảo với bạn rằng “khiếu thẩm mỹ [2] là chủ quan.” Họ tin vào điều này vì họ thực sự cảm nhận như vậy. Khi họ thích một cái gì đó, họ không biết tại sao. Có thể vì cái thứ họ thích thật đẹp, hoặc vì mẹ của họ có một cái tương tự, hoặc vì họ thấy một diễn viên nổi tiếng đeo nó trong trang bìa một tờ báo, hoặc vì họ biết rằng nó thực sự đắt. Các suy nghĩ của họ là một mớ bòng bong các thôi thúc không được phân tích.

Phần lớn chúng ta từ nhỏ đã được khuyến khích từ bỏ phân tích và thấu hiểu các thôi thúc này. Nếu bạn trêu chọc em trai mình vì “tội” tô màu mọi người màu xanh lá trong sách tô màu của mình, nhiều khả năng mẹ bạn sẽ nói với bạn một cái gì đại loại như là “con thích tô màu kiểu của con và em thích tô màu kiểu của em.”

Mẹ bạn vào lúc này đang thực sự không cố gắng dạy bạn các sự thật quan trọng về thẩm mỹ. Mẹ bạn chỉ cố gắng dừng cãi nhau giữa bạn và em trai bạn.

Giống như những sự nửa-thật khác mà người lớn nói với chúng ta, cái này đi ngược với nhiều điều khác họ dạy. Sau khi nhồi nhét tư tưởng rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là vấn đề lựa chọn cá nhân, họ dẫn bạn đi dến các bảo tàng lớn và nói với bạn rằng con nên tập trung xem tranh vì Leornado là một nghệ sĩ vĩ đại.

Cái gì xảy ra trong đầu đứa trẻ vào lúc này? Nó sẽ nghĩ “nghệ sĩ vĩ đại” có ý nghĩa gì? Sau khi được bảo rằng mỗi người thích làm các thứ theo ý mình, đứa trẻ sẽ ít có khả năng đi thẳng đến kết luận rằng nghệ sĩ vĩ đại là một người mà các tạo phẩm của họ tốt hơn bất kì tạo phẩm của ai khác. Một khả năng lớn hơn nhiều, trong mô hình Ptolemy mô phỏng thế giới của đứa trẻ, là một nghệ sĩ vĩ đại là một cái gì đó tốt cho bạn, giống như súp-lơ tốt cho sức khoẻ, chỉ vì ai đó nói thế trong một cuốn sách.

Nói rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là ưa thích cá nhân là một cách tốt để phòng ngừa tranh cãi. Vấn đề là, nó không đúng. Bạn cảm thấy điều này khi bạn thực sự thiết kế các thứ.

Bất kể trong nghề gì, tự nhiên mọi người đều muốn làm tốt hơn. Các cầu thủ bóng bầu dục muốn thắng các trận bóng. Các CEO muốn kiếm nhiều tiền hơn. Đây là một vấn đề của tự hào, và một niềm hạnh phúc, để được trở nên tốt hơn trong nghề. Nhưng nếu nghề của bạn là thiết kế các thứ, và nếu không có gì là cái đẹp, thì thực sự không thể có một cách nào để làm tốt hơn trong nghề của bạn. Nếu mọi thứ chỉ là ưa thích cá nhân, thì tất cả mọi người đều đã hoàn hảo: bạn thích cái gì bạn thích, và chỉ như vậy là đủ.

Giống như trong mọi nghề khác, khi bạn liên tục thiết kế các thứ, bạn trở nên giỏi hơn trong việc thiết kế. Khiếu thẩm mỹ của bạn thay đổi. Và giống như tất cả những người trở nên giỏi hơn trong nghề, bạn biết rằng bạn đang trở nên tốt hơn. Nếu thế, những cái cảm nhận thẩm mỹ [3] cũ của bạn không chỉ khác, mà còn kém hơn cái bạn đang có. Tiên đề nói rằng khiếu thẩm mỹ không thể “sai” vừa bị tôi cho bốc hơi.

Chủ nghĩa tương đối đang thịnh hành ở thời đại này, và nó có thể sẽ cản trở bạn trong việc suy nghĩ về khiếu thẩm mỹ, kể cả khi khiếu thẩm mỹ của bạn lớn lên. Nhưng khi bạn đi ra khỏi phòng ngủ và thú nhận, ít nhất là với bản thân, rằng có một cái gì đó gọi là thiết kế tốt và thiết kế kém, bạn có thể bắt đầu học về các thiết kế tốt một cách cặn kẽ. Khiếu thẩm mỹ của bạn đã thay đổi như thế nào? Khi bạn phạm sai lầm, cái gì làm điều đó xảy ra? Mọi người khác đã học gì về thiết kế?

Khi bản thực sự tìm hiểu câu hỏi, thật đáng ngạc nhiên rằng các khái niệm về cái đẹp của các ngành khác nhau có nhiều điểm chung như vậy. Các quy luật về thiết kế tốt xuất hiện đi xuất hiện lại.

Thiết kế tốt thì đơn giản. Bạn được biết về điều này từ toán học cho đến mỹ thuật. Với toán học một chứng minh ngắn hơn thường là một chứng minh tốt hơn. Đặc biệt là với các tiên đề, càng ít càng tốt. Điều này gần như không khác gì trong lập trình. Với các kiến trúc sư và nhà thiết kế, cái đẹp chỉ nên dựa trên một vài yếu tố về cấu trúc được chọn lựa kỹ càng, thay vì quá nhiều những tô vẽ hời hợt. (Bản thân trang trí không phải cái xấu, trừ phi nó bị che đậy dưới sự vô vị. ) Tương tự, trong mỹ thuật, tranh tĩnh vật của một vài đồ vật được quan sát cẩn thận và sắp xếp chắc chắn thường sẽ thú vị hơn một dải tranh vẽ những thứ bóng bẩy nhưng lặp lại một cách vô thức của, ví dụ, một cái ren cổ áo. Trong viết lách, điều này có nghĩa là: nói đúng cái mình nghĩ và nói một cách ngắn gọn thôi.

Có vẻ kì lạ khi tôi nhấn mạnh sự đơn giản. Bạn nghĩ đơn giản sẽ là mặc định. Hào nhoáng là thêm việc. Nhưng có vẻ có cái gì đó ám ảnh con người ta khi họ cố gắng sáng tạo. Các nhà văn mới bắt đầu thường sử dụng một giọng văn mỹ miều mà không giống cách họ nói chuyện bình thường một tí nào. Các nhà thiết kế cố gắng thể hiện tính nghệ thuật hạ mình xuống mức nguệch ngoạc và tô vẽ cong cớn [4]. Các hoạ sĩ phát hiện ra là họ theo chủ nghĩa biểu hiện. Tất cả đều chỉ là né tránh. Dưới tất cả những từ ngữ dài dòng và những đường cọ đầy nét “biểu hiện” , không có gì thực sự xảy ra, và điều này thật đáng sợ.

Khi bạn bị bắt buộc phải đơn giản, bạn bị bắt phải đối mặt với vấn đề thật sự. Khi bạn không thể cung cấp sự tô vẽ, bạn phải cung cấp phẩm chất. [5]

Thiết kế tốt thì bất hủ. Trong toán học, mọi chứng minh là mãi mãi cho đến khi nó có một lỗi sai. Vậy ý Hardy là gì khi nói rằng không có một chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí? Ý ông giống điều mà Kelly Johnson từng nói: nếu có gì đó xấu xí, nó không thể là giải pháp tốt nhất. Phải có một cái gì đó tốt hơn, và cuối cùng thì sẽ có ai đó tìm ra nó.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để đảm bảo bạn tìm được câu trả lời tốt nhất. Nếu bạn có thể tưởng tượng ai đó vượt qua bạn, bạn nên tự làm. Một vài vị bậc thầy giỏi đến mức họ để rất ít chỗ cho những người đi sau sáng tạo thêm. Tất cả những nhà điêu khắc sau Durer phải sống dưới cái bóng của ông.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để tránh ảnh hướng của thời trang. Thời trang theo định nghĩa là phải thay đổi theo thời gian, vì vậy nếu bạn có thể làm cái gì đó mà vẫn tốt trong tương lai lâu dài thì sự hấp dẫn của sản phẩm đó phải đến từ bản chất của nó chứ không phải từ thời trang.

Tương đối kỳ lạ là nếu bạn muốn chế ra cái gì đó mà sẽ hấp dẫn các thế hệ trong tương lai, một cách để triển khai là tìm cách hấp dẫn các thế hệ trong quá khứ. Rất khó để đoán được tương lai sẽ như thế nào, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ giống quá khứ trong việc không quan tâm gì đến những thứ đang là thời thượng. Vì vậy nếu bạn có thể làm gì đó hấp dẫn mọi người của thế hệ này và cũng đã có thể hấp dẫn những người ở thế kỉ 15, có khả năng nó cũng sẽ hấp dẫn những người ở thế kỷ 25.

Thiết kế tốt giải quyết đúng vấn đề. Một chiếc bếp ga điển hình có bốn lò được xếp ở 4 góc của hình vuông, và mỗi lò một tay vặn để chỉnh. Làm sao để sắp xếp các tay vặn? Câu trả lời đơn giản nhất là đặt chúng theo một hàng, nhưng đây là câu trả lời đơn giản cho một câu hỏi sai. Các tay vặn là để cho người dùng, và nếu bạn đặt nó theo một hàng, người dùng không may mắn sẽ phải dừng lại và nghĩ mỗi lần dùng xem tay vặn nào đi với lò nào. Tốt hơn là xếp các tay vặn theo hình vuông theo những cái lò.

Rất nhiều các thiết kế tồi thường khá cần mẫn, nhưng lệch hướng. Vào giữa thế kỷ hai mươi, có một xu hướng để chữ theo phông sans-serif. Các phông chữ này đúng là sát với các dạng chữ thuần khiết và cơ bản nhất. Nhưng trong việc đánh chữ đó không phải là vấn đề bạn muốn giải quyết. Để cho mọi thứ dễ đọc thì việc quan trọng hơn là các chữ cái phải dễ phân biệt với nhau hơn. Có thể nó sẽ hơi bắt chước thời đại Victoria, nhưng một chữ g không viết hoa theo phông Times Roman thì dễ phân biệt hơn một chữ y cùng dạng.

Các vấn đề cũng có thể được cải tiến như với các giải pháp. Trong lập trình, một vấn đề nan giải thường có thể thay thế bằng một vẫn đề khác tương đương nhưng lại dễ giải quyết. Ngành vật lý phát triển nhanh hơn khi các vấn đề trở thành việc dự đoán các hành vi và hiện tượng có thể quan sát được, thay vì tạo kết nối giữa những hiện tượng này với lý thuyết [6].

Thiết kế tốt thì khơi gợi. Các tiểu thuyết của Jane Austen chứa trong chúng gần như không một chút miêu tả nào; thay vì tả cho bạn mọi thứ trông như thế nào, nhà văn kể chuyện tài tình đến mức bạn tự mình hình dung ra cảnh vật. Tương tự, một bức tranh mà khơi gợi thì thường lôi cuốn hơn một bức tranh kể lể. Tất cả mọi người đều tự chế ra các câu chuyện của riêng mình về bức Mona Lisa.

Trong kiến trúc và thiết kế, quy luật này có nghĩa là một toà nhà hay một đồ vật nên để bạn dùng nó theo những cách của riêng bạn: một toà nhà thiết kế tốt chẳng hạn, sẽ là nền tảng cho bất kì kiểu cách sống nào mọi người muốn có, thay vì làm họ sống trong cảm giác phải chạy theo một chương trình được viết sẵn bởi kiến trúc sư.

Trong lập trình, điều này có nghĩa là bạn nên cho những người dùng một vài yếu tố cơ bản để họ có thể kết hợp nếu muốn, giống như Lego. Trong toán học, nó có nghĩa là một chứng mình mà trở thành nền tảng cho rất nhiều các nghiên cứu mới thì hay hơn là một chứng minh mà cực kỳ khó nhưng không dẫn đến các khám phá trong tương lai; trong các ngành khoa học điều này tương đương với việc lượng trích dẫn được coi là một dấu hiệu thô sơ của sự xứng đáng.

Thiết kế tốt thì thường hơi buồn cười. Điều này có thể không đúng lắm. Nhưng điêu khắc của Durer và ghế tử cung của Saarinen và đền Pantheon và mẫu xe gốc cho Porsche 911 đều có vẻ hơi ngộ nghĩnh với tôi. Định lý bất toàn của Godel nghe như một trò đùa trêu ngươi. [7]

Tôi nghĩ bởi vì tính hài hước thì liên quan đến sức mạnh. Để có khiếu hài hước thì ta cũng cần mạnh mẽ: để giữ lập trường và cảm nhận về hài hước thì cần biết giũ đi những điều bất hạnh, và để mất khiếu hài hước thì cần bị tổn thương bởi những điều này. Và vì vậy dấu hiệu—hoặc ít nhất là một quyền lợi—của sức mạnh là việc không quá nghiêm trọng hoá bản thân. Thường thì những người tự tin, giống như những chú chim én, có vẻ như đang chọc ghẹo cả quá trình sáng tạo, giống như Hitchcock hay làm trong phim của ông, hay Bruegel với các bức tranh của mình—hay thậm chí cả Shakespeare, trong trường hợp này.

Thiết kế tốt có thể không cần hài hước, nhưng khó có thể tưởng tượng một cái gì bị gọi là thiếu hài hước mà lại là thiết kế tốt.

Thiết kế tốt thì khó. Nếu bạn quan sát những người đã làm những sản phẩm tuyệt vời, một thứ mà tất cả đều có vẻ có chung là họ đều làm việc cực kỳ chịu khó [8]. Nếu bạn không chịu khó, nhiều khá năng là bạn đang phí hoài thời gian.

Các vấn đề khó đòi hỏi các nỗ lực rất lớn. Trong toán học, các chứng minh khó yêu cầu các lời giải tài tình, và thường những lời giải đó đều khá thú vị. Tương tự với ngành kỹ thuật.

Khi bạn phải leo một quả núi, bạn ném đi tất cả những gì không cần thiết ra khỏi ba lô của mình. Và vì thế một kiến trúc sư phải thiết kế xây dựng trên một khu địa hình phức tạp, và với một nguồn vốn nhỏ, sẽ nhận ra rằng anh ta buộc phải sản xuất ra một thiết kế thanh nhã. Các sự thời trang và hoa hoè bị phủi sang một bên trước sự hiện diện của công việc đầy thách thức: ít nhất là tìm ra được giải pháp cho vấn đề.

Không phải mọi thứ khó khăn đều tốt. Có những cơn đau tốt và những cơn đau xấu. Bạn muốn cái kiểu đau từ việc bạn đi tập chạy, và không phải kiểu đau từ việc dẫm phải đinh. Một vấn đề khó có thể tốt cho một nhà thiết kế, nhưng một khách hàng hay thay đổi yêu cầu hoặc các vật liệu không tin cậy thì không tốt.

Trong mỹ thuật, các tranh vẽ người thường theo truyền thống được vinh danh nhiều nhất. Có một lí do gì đó cho truyền thống này, và không chỉ đơn giản rằng các tranh vẽ mặt người có khả năng kích thích não bộ của chúng ta theo những cách các tranh khác không làm được. Chúng ta giỏi trong việc nhìn nhận các khuôn mặt đến mức chúng ta bắt những người vẽ chúng phải chịu nhiều khó khăn để làm thoả mãn chúng ta. Nếu bạn vẽ một cái cây và bạn thay đổi góc của một cái cành cây khoảng năm độ, sẽ chẳng có ai biết. Khi bạn vẽ mắt của ai đó lệch khoảng năm độ, mọi người sẽ để ý.

Khi các nhà thiết kế Bauhaus bắt trước quy luật của Sullivan, “chức năng trước, hình thức sau” [9], ý họ là hình thức nên đi theo sau tính năng. Và nếu chức năng đủ khó thì hình thức sẽ bị buộc phải đi theo chức năng, vì ta không có thừa sức lực để phát sinh thêm các lỗi sai. Các động vật hoang dã thường đẹp vì chúng sống những cuộc đời khó khăn.

Thiết kế tốt thì trông dễ. Giống như những vận động viên thể thao lớn, các nhà thiết kế vĩ đại làm mọi thứ có vẻ dễ dàng. Phần lớn đây là ảo giác. Giọng văn đơn giản, đầy tính đàm thoại của các viết lách tốt xuất hiện vào lần viết lại thứ tám.

Trong khoa học và kỹ thuật, có những phát hiện vĩ đại mà có vẻ đơn giản đến mức bạn phải tự nhủ, đến mình cũng có thể nghĩ ra chúng. Người khám phá ra những điều này có quyền hỏi ngược lại, tại sao bạn không làm thế?

Một vài tranh vẽ mặt của Leonardo chỉ mất vài nét. Bạn nhìn vào chúng và nghĩ, tất cả cái mình cần làm là vẽ lại được tám đến mười nét ở đúng chỗ của chúng, và bạn đã vẽ xong bức chân dung tuyệt đẹp này. Ừ thì, hẳn vậy, nhưng bạn phải vẽ chúng ở chính xác những chỗ đó. Lỗi sai nhỏ nhất cũng sẽ làm cả bức tranh đổ vỡ.

Vẽ bằng một nét trên thực tế là phương tiện hình ảnh khó học nhất, vì chúng đòi hỏi sự cầu toàn. Nếu dùng các khái niệm toán học, điều này tương đương với một đáp án cụ thể [10]; các hoạ sỹ kém hơn giải quyết cùng vấn đề này bằng cách liên tiếp xấp xỉ. Một trong những lí do trẻ con dừng tập vẽ khoảng năm mười tuổi là vì chúng bắt đầu vẽ như người lớn, và một trong những thứ đầu tiên chúng thử là vẽ bằng một nét. Bụp! [11]

Trong phần lớn các ngành, sự hiện diện của cảm giác dễ dàng thường đi kèm với luyện tập. Có lẽ cái mà luyện tập làm là chuẩn bị tiềm thức của bạn để giải quyết một cách vô thức các công việc mà bình thường yêu cầu bạn phải suy nghĩ ý thức. Trong một số trường hợp, theo đúng nghĩa đen là bạn phải luyện tập cơ thể mình. Một nghệ sĩ dương cầm chuyên nghiệp có thể đánh các nốt nhạc nhanh hơn cả tốc độ não có thể gửi tín hiệu đến tay của anh ta. Tương tự, một hoạ sỹ, sau một thời gian, có thể đưa nhận thức hình ảnh chảy từ mắt xuống bàn tay mình một cách tự động không kém gì một người gõ chân theo nhịp nhạc.

Khi mọi người nói về trạng thái siêu tập trung [12], tôi nghĩ ý họ là mọi thứ đã được tuỷ sống [13] của họ kiểm soát. Tuỷ sống của bạn sẽ bớt ngại ngùng, và nó để dành các suy nghĩ có ý thức cho các vấn đề thực sự khó.

Thiết kế tốt sử dụng đối xứng. Tôi nghĩ rằng đối xứng có thể chỉ là một cách để đạt được sự đơn giản, nhưng nó đủ quan trọng để được nhắc đến riêng. Tạo hoá dùng đối xứng khá nhiều, đây là một dấu hiệu tốt.

Có hai loại đối xứng, sự lặp lại và sự đệ quy (quy nạp). Đệ quy được hiểu là sự lặp lại của các yếu tổ nhỏ hơn bên trong của một vật, ví dụ như các dạng mẫu của những cái gân của một chiếc lá.

Sự đối xứng đang không còn hợp thời trong một số ngành, để phản ứng lại sự thừa thãi đối xứng trong quá khứ ngành đó. Các kiến trúc sư bắt đầu xây các ngôi nhà đối xứng một cách có ý thức vào thời ký Victoria và đến tầm các năm 1920 sự bất đối xứng đã trở thành một tiên đề rõ ràng của kiến trúc hiện đại. Nhưng cả những ngôi nhà này cũng chỉ bất đối xứng ở những trục chính; còn có hàng trăm các đối xứng nhỏ trong thiết kế.

Trong viết văn bạn sẽ tìm thấy sự đối xứng ở mọi cấp độ, từ các cụm từ trong một câu cho đến cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết. Bạn sẽ tìm thấy những thứ tương tự trong âm nhạc và nghệ thuật. Các tranh ghép mosaic (và một vài tranh của Cézanne) thêm ấn tượng hình ảnh bằng cách xây dựng cả bức tranh bằng những hạt cơ bản giống nhau. Đối xứng thành phần [14] đem lại những bức tranh đáng nhớ nhất, đặc biệt là khi hai nửa tranh phản ứng với nhau, ví dụ như tranh Creation of Adam hoặc American Gothic.

Trong toán và kỹ thuật, đặc biệt phép đệ quy là một lợi thế lớn. Các chứng minh quy nạp thường ngắn một cách kì diệu. Trong lập trình, các bài toán có thể giải được bằng đệ quy thường có đệ quy là cách giải tốt nhất. Tháp Eiffel trông thật ấn tượng một phần vì đó là một giải pháp khá đệ quy, một toà tháp trên một toà tháp khác.

Sư nguy hiểm của đối xứng, và đặc biệt là sự lặp lại, là việc nó có thể bị dùng để thay thế cho suy nghĩ.

Thiết kế tốt thì mô phỏng thiên nhiên. Không phải vì có cái gì đó tốt trong bản chất của việc mô phỏng thiên nhiên, mà là vì thiên nhiên đã có rất nhiều thời gian để giải quyết vấn đề của nó. Sẽ là một dấu hiệu tốt khi giải pháp của bạn mô phỏng được thiên nhiên.

Sẽ không phải là ăn gian để bắt chước. Sẽ có ít người phủ nhận rằng một câu chuyện nên giống với quộc đời. Làm việc lấy xuất phát điểm từ cuộc sống là một công cụ quý giá, dù vai trò của nó thường hay bị hiểu lầm. Mục tiêu không phải là để lập kỉ lục hay được ghi nhận. Mục tiêu của việc vẽ lấy cảm hứng từ cuộc sống là việc đó cho tâm trí bạn cái gì đó để nhai tạm: khi mắt bạn đang nhìn cái gì đó, tay bạn sẽ làm những việc thú vị hơn.

Giả mạo tương lai cũng được tính trong ngành kỹ thuật. Có nhiều các thuyền đã lâu nay có cột sống và khung sườn như của một con thú. Ở một vài trường hợp chúng ta cần chờ đợi công nghệ tốt hơn: các nhà thiết kế máy bay đời đầu đã sai lầm khi thiết kế những chiếc máy bay trông giống chim, vì họ không có những vật liệu hoặc nguồn nhiên liệu đủ nhẹ (động cơ của anh em nhà Wright nặng 152 lbs. [15] và tạo ra mỗi 12 mã lực.) hoặc các bảng điều khiển đủ phức tạp cho những cỗ máy bay như chim, nhưng tôi có thể hình dung các máy bay trinh sát có cấu trúc giống chim trong khoảng năm mươi năm tới.

Hiện giờ chúng ta đã có đủ nguồn lực máy tính, chúng ta có thể bắt chước các phương thức của thiên nhiên cũng như kết quả của nó. Các thuật toán di truyền có thể cho chúng ta tạo ra những thứ quá phức tạp để thiết kế theo khái niệm thông thường.

Thiết kế tốt là tái thiết kế. Thật hiếm để làm mọi thứ đúng ngay lần đầu tiên. Các chuyên gia dự định trước là sẽ vứt bỏ một vài sáng chế ban đầu. Họ lên kế hoạch trước cho việc kế hoạch sẽ thay đổi.

Cần tự tin để vứt sang chế đi. Bạn phải có khả năng nghĩ rằng, còn nhiều thứ có thể sinh ra từ nó. Khi mọi người bắt đầu vẽ chẳng hạn, họ thường ngại vẽ lại một vài phần khôg đúng; họ cảm thấy họ đã đủ may mắn khi đi xa được như thế, và nếu họ cố gắng làm lại một cái gì đó, nó sẽ chỉ tệ hơn. Thay vì làm lại họ tự huyễn hoặc rằng bản vẽ không thực sự tệ đến thế–trên thực tế, có khi ý họ là nó phải trông như vậy.

Bất kì cái gì hình thành sự không thoả mãn thường là trong ranh giới nguy hiểm. Các tranh của Leonardo thường có khoảng năm hoặc sáu lần thử để nét vẽ chuẩn xác. Phần sau xe đặc biệt của chiếc Porsche 911 chỉ xuất hiện sau khi tái thiết kế lại một mẫu thử gượng gạo. Trong các bản thiết kế đầu tiên của toà nhà Guggenheim của kiến trúc sư Frank Lloyd Wright, nửa bên phải là một cấu trúc Ziggurat, ông chỉ xoay ngược nó để có hình dạng hiện tại.

Các lỗi lầm là một phần của tự nhiên. Thay vì coi chúng như những thảm hoạ, hãy làm chúng dễ nhận biết và dễ sửa. Leonardo gần như là người đãng sáng tác ra phương pháp vẽ phác, để giúp mỹ thuật mang sức nặng hơn về sự khám phá. Các phần mềm mã mở có ít lỗi hơn vì chúng ghi nhận khả năng có lỗi.

Sẽ rất tốt nếu có một thứ phương tiện giúp sự thay đổi xảy ra dễ dàng. Khi sơn dầu thay thế thuốc màu tempera vào thế kỷ mười lăm, nó giúp các hoạ sĩ xử lí các chủ đề khó hơn như cơ thể người bởi vì, không giống như tempera, sơn dàu có thể được pha loãng và được tô đè lên.

Thiết kế tốt có thể sao chép. Các thái độ với sự sao chép thường thay đổi theo chu kì một vòng. Một người mới học việc bắt chiếc vô ý thức; sau đó anh ta cố gắng một cách ý thức để trở nên độc đáo; cuối cùng anh ta quyết định là việc làm đúng quan trọng hơn là cố gắng độc đáo.

Sao chép vô ý thức gần như là một công thức cho thiết kế xấu. Nếu bạn không biết các ý tưởng của mình đến từ đâu, có lẽ bạn đang bắt chước một kẻ bắt chước khác. Raphael quá là phổ biến vào giữa thế kỷ mười chín để đến mức mà bất kì ai cố gắng vẽ đều đang bắt chước ông ta, thường là qua vài người bắt chước trung gian khác. Chính vì chuyện này, chứ không phải vì các tác phẩm của Raphael, làm bức xúc nhóm Tiền-Raphael [16].

Những người giàu tham vọng không thoả mãn với việc bắt chước. Giai đoạn thứ hai của việc nuôi lớn khiếu thẩm mỹ là một cố gắng ý thức để tạo giá trị mới.

Tôi nghĩ nhưng bậc thầy giỏi nhất vượt qua giai đoạn này để đến một trạng thái quên mình. Họ chỉ muốn có câu trả lời đúng đắn, và nếu một phần của câu trả lời đúng đã được khám phá ra bởi ai đó khác, thì chẳng có lí gì mà không dùng luôn nó. Họ đủ tự tin để lấy từ bất kì ai mà không cảm thấy tầm nhìn của họ bị mất đi trong quá trình này.

Thiết kế tốt thường kỳ lạ. Một vài sáng tạo tuyệt vời nhất thường có tính chất quái dị: Công thức Euler, bức Thợ Săn trong Tuyết của Bruegel, máy bay SR-17, và ngôn ngữ lập trình LISP. Chúng không chỉ đẹp, mà đẹp một cách lạ kỳ.

Tôi không chắc vì sao. Có thể chỉ là sự ngu ngốc của chính tôi. Một cái mở nắp chắc phải là một thứ rất kì diệu đối với một chú chó. Có thể nếu tôi đủ thông minh thì việc e^(i*pi)=-1 sẽ là thứ hiển nhiên nhất trên đời. Dẫu sao thì nó cũng là một sự thật.

Phần lớn những thứ tôi đã nhắc đến đều có thể được hình thành, nhưng tôi không nghĩ ta có thể tự hình thành sự quái dị. Điều tốt nhất bạn có thể làm là không đè bẹp nó khi nó bắt đầu xuất hiện. Einstein không hề cố gắng làm cho thuyết tương đối kỳ lạ. Ông ta cố gắng làm cho nó đúng, và sự đúng đắn ấy cuối cùng trông khá kỳ lạ.

Ở một trường mỹ thuật tôi từng đi học, các sinh viên muốn nhất là hình thành phong cách riêng. Nhưng nếu bạn cố gắng tạo ra những thứ tốt, cuối cùng thì bạn sẽ tạo ra chúng theo một cách rất riêng, giống như cách mỗi người bước chân cũng rất khác nhau. Michaelangelo không cố gắng vẽ giống Michaelangelo. Ông ta chỉ cố gắng vẽ đẹp, và vì thế nên ông không thể cản mình vẽ giống Michaelangelo.

Phong cách đáng có duy nhất là phong cách mà bạn không thể chối bỏ được. Và điều này đặc biệt đúng với sự kỳ lạ. Không có một đường tắt nào để đến với nó. Cái thứ Hành lang Tây Bắc mà nhóm trường phái kiểu cách, nhóm trường phái lãng mạn, và hai thế hệ học sinh cấp ba ở Mỹ bỏ công tìm kiếm dường như không tồn tại. Cách duy nhất để đi đến cái đích này dường như chỉ có đi hết con đường và đi ra ở đầu bên kia.

Thiết kế tốt thường xuất hiện theo từng đợt. Những người sống ở Florence vào thế kỉ mười lăm bao gồm Brunelleschi, Ghiberti, Donatello, Masaccio, Filippo Lippi, Fra Angelico, Verrocchio, Botticelli, Leonardo, và Michaelangelo. Milan thời bấy giờ to ngang ngửa Florence. Bạn có thể kể tên bao nhiêu hoạ sĩ đến từ Milan vào thế kỉ mười lăm?

Có gì đó đã xảy ra ở Florence vào thế kỷ mười lăm. Và nó không phải là vấn đề thừa hưởng gen, vì nó không còn xảy ra nữa. Bạn phải giả định rằng bất kì khă năng bẩm sinh nào Leonardo và Michaelangelo có, sẽ có những người sinh ra ở Milan với những tài năng tương tụ. Chuyện gì đã xảy ra với Leonardo của Milan?

Có khoảng một ngàn lần số người sống ở Hoa Kỳ so với số người sống ở Florence của thế kỷ mười lăm. Một ngàn Leonardo và một ngàn Michaelangelo xống trong xã hội của chúng ta. Nếu ADN thực sự đóng vai trò quan trọng, nhẽ ra chúng ta phải bị king ngạc bởi nhan nhản các tác phẩm nghệ thuật ở mọi nơi. Nhưng sự thật không phải vậy, và lí do là vì để sinh ra một Leonardo bạn cần nhiều hơn khả năng bẩm sinh của anh ta. Bạn cần Florence vào năm 1450.

Chẳng có gì mạnh hơn một cộng đồng những người có nhiều tài năng và cùng nhau làm việc trên những vấn đề liên quan tới nhau. Gen không ảnh hưởng nhiều lắm so với yếu tố này: có gen của Leonardo không đủ đề bù cho việc được sinh ra ở gần Milan thay vì Florence. Hôm nay chúng ta di chuyển nhiều hơn, nhưng các sáng tạo vĩ đại thường chỉ đến từ một vài chỗ nóng đặc biệt: nhà Bauhaus, Dự Án Manhattan, thời báo New Yorker, Skunk Works của hãng Martin Lockheed, Công ty nghiên cứu PARC thuộc Xerox.

Ở bất kỳ một thời điểm nào sẽ có một vài chủ đề nổi cộm và một vài nhóm làm những việc ấn tượng trong những chủ đề này, và bạn sẽ gần như không thể làm được những việc tương tự nếu bạn ở quá xa một trong những trung tâm này. Bạn có thể đưa đẩy các xu hướng này ở một mức độ nào đó, nhưng bạn không thể cắt mình khỏi chúng. (Có thể chỉ bạn mới làm được điều này, nhưng phiên bản Leonardo ở Milan không thể.)

Thiết kế tốt thường liều lĩnh. Ở bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào, mọi người đều đã từng tin vào những thứ siêu ngớ ngẩn, và niềm tin của họ mạnh mẽ đến mức bạn sẽ có nguy cơ bị tẩy chay hoặc bị bạo hành nếu đưa ra những thứ đi ngược với niềm tin này.

Nếu thế hệ của chúng ta mà không còn như vậy thì sẽ thật tuyệt vời. Với những gì tôi biết, điều này không đúng.

Vấn đề này ảnh hưởng không chỉ mọi thời đại, mà còn ở một số mức độ mọi ngành nghề. Phần lớn mỹ thuật thời Renaissance được coi là trần tục một cách đáng kinh ngạc: theo lời Vasari, Botticelli từng hối hận và từ bỏ hội hoạ, và Fra Bartolommeo và Lorenzo di Credi thậm chí còn đốt một vài tác phẩm của họ. Thuyết tương đối của Einstein xúc phạm rất nhiều nhà vật lý cùng thời, và đã không được chấp nhận hoàn toàn đến hàng thập kỷ–đặc biệt ở Pháp, phải đến những năm 1950.

Lỗi thử nghiệm hôm nay là lý thuyết mới của ngày mai. Nếu bạn muốn khám phá ra những thứ vĩ đại mới thì thay vì nhắm mắt với nhưng nơi mà sự thật và lẽ phải thông thường không giao nhau, hãy đặc biệt chú ý đến chúng.

Một vấn đề thực tế, tôi nghĩ dễ tưởng nhìn thấy cái xấu hơn là hình dung cái đẹp. Phần lớn những người đã làm ra những thứ đẹp đẽ thường làm được việc này nhờ chữa một cái gì đó họ cho là xấu xí. Những tuyệt tác thường được hoàn thành vì có ai đó nhìn thấy một cái gì đó và nghĩ Mình có thể làm tốt hơn thế này. Giotto nhìn thấy những hình mẹ Mary theo phong cách Byzantine truyền thống, được vẽ theo một công thức mà đã thoả mãn mọi người hàng trăm năm nhưng với ông thì trông chúng khô cứng và không tự nhiên. Copernicus phiền não vì một “phát minh” mà tất cả những người cùng thời của ông có thể chấp nhận đến mức mà ông cảm giác phải có một lời giải tốt hơn.

Sự không khoan nhượng với cái xấu thì không đủ. Bạn phải hiểu một ngành đủ sâu trước khi bạn hình thành một cái mũi đánh hơi tốt những gì cần sửa đổi. Bạn phải làm bài tập về nhà của riêng mình. Nhưng khi bạn dần trở thành một chuyên gia trong ngành của mình, bạn sẽ bắt đầu nghe thấy những giọng nói nho nhỏ trong đầu mình, Đúng là ăn gian! Phải có một cách gì đó tốt hơn. Đừng kệ những giọng nói này. Nuôi dưỡng chúng. Công thức cho việc làm vĩ đại là: một cái khiếu thẩm mỹ cực kì rõ ràng, cộng thêm khả năng thoả mãn cái khiếu thẩm mỹ ấy.

Ghi Chú

Sullivan thực ra đã nói là “form luôn luôn đi theo function,” nhưng tôi nghĩ sự trích dẫn sai thường thấy thì sát với ý của các kiến trúc sư hiện đại hơn.

Stephen G. Brush, “Vì sao Thuyết Tương Đối được Chấp Nhận?” Báo Vật Lý trong Quan Điểm 1 (1999) 184-214

***

Ghi Chú từ người dịch:

[0] Taste: mình băn khoăn rất nhiều khi chọn từ thay thế cho taste, đây là từ cuối cùng được dịch ra. Dường như không có gì trong tiếng Việt thay thế được sự tối giản và móc nối với các lớp nghĩa khác của cùng từ Taste này. Taste là nếm thử, nếm trải, nhưng cũng là sở thích và thị hiếu- và khi đọc từ taste thì mình luôn luôn ám ảnh hơn về cảm giác nghĩa này; dường như thực sự có một cái ý nghĩa hay khái niệm gì đó mà nằm tách biệt hẳn khỏi ngôn ngữ mô tả chúng. Mình chọn “khiếu thẩm mỹ” qua rất nhiều cân nhắc, nhưng cụm này thì tránh gây hiểu lầm nhất.

[1] nhắc nhở rằng taste vẫn là một từ ngắn gọn

[2] đây có lẽ là sự lệch lạc về màu nghĩa đầu tiên cho từ taste và cụm “khiếu thẩm mỹ”

[3] vẫn là taste

[4] swooshes & curlicues

[5] substance

[6] Dịch scripture là lý thuyết, vì tác giả sử dụng liên hệ tôn giáo: một lý thuyết đã quá vững vàng và được chấp nhận gần như Kinh Thánh.

[7] practical joke

[8] work hard dịch là lviec chăm chỉ dường như không sát nghĩa cho lắm

[9] form follows function, dùng cấu trúc câu này để làm rõ tính tối giản của câu gốc, để so sánh với ý sau, là form should follow function

[10] closed-form solution, chứ không phải các lời giải mang tính ước lượng. Hãy nghĩ việc giải một phương trình vi phân tuyến tính bậc nhất bằng cách tìm thừa số tích phân và tìm ra phương trình đích xác và thay số, so với sử dụng Phương Pháp Euler để ra một xấp xỉ số gần sát chẳng hạn.

[11] Smack!

[12] being in the zone

[13] Hiểu nôm na: Mọi thứ được tự động hoá bởi các dây thần kinh, không cần nghĩ nhiều để làm được việc.

[14] compositional symmetry

[15] ~ 69 kg

[16] Pre-Raphaelites


Leave a comment

Musk

Có vẻ gần đây mình có một chút hứng thú với cuộc sống start-up. Không biết có phải vì lêu lổng, hay vì nhận ra mình sẽ thích có 10 năm làm việc như điên và sau đó ngồi nghỉ không, nhưng nói chung là những màu sắc của thế giới này cho mình nhiều cảm hứng, và cũng là chỗ để thở ra sau những khuôn khổ cuộc đời. Điều này dẫn đến (hoặc được đẻ ra từ?) việc mình đọc một đống thứ liên quan – các bài luận của PG (tớ đã đọc hết tuyển tập Hackers & Painters, phải nói là thứ tự của các essay có ý nghĩa phết!), một quyển sách nhặt đại từ một cái hội thảo/ workshop của tác giả, một đống các loại blog post và bài báo và các sự stalk các Thiel Fellows, và hiện tại là quyển này của Ashlee Vance.

I. Start-up cho những người thích sống chậm? 

Mình không thích sự đánh bóng anh hùng start-up như blog 5xu có làm với Musk, vì nó vẫn hơi sặc sụa ôm ấp tư bản, và thực ra quan trọng hơn là nó không đi kèm theo những phong thái mình thích. Câu chuyện Elon Musk là một câu chuyện sắp vĩ đại, nhưng đó là sự vĩ đại cho người khác. Nó không giải quyết được những vết thương lòng, và những lớp người Musk đã ảnh hưởng. Mình đọc biography về Musk một cách khó khăn, và thậm chí là trong cơn trầm cảm, vì những thứ suy tưởng trong đó, tuy đầy quyết tâm và nhiệt huyết, không có sự kết nối và thực sự xây dựng ý nghĩa cho sự sống. Mình hiểu kế hoạch đi đến Sao Hoả như một giải pháp vô trách nhiệm khác của những tư tưởng thuần khoa học.

Ở thế giới của startup, của phương Tây, của những người làm việc cho Musk, hay sống cuộc đời start-up thật sự trẻ trâu, nhưng mình không nói đến bề ngoài, mà là sức mạnh nội tại của họ. Sức mạnh nội tại đầy sức trẻ. Những tâm hồn trẻ chỉ quan tâm đến làm việc và thu nhận những bài học bản ngã, hơn là kết nối bên trong.

Và tự hỏi, những tâm hồn già cỗi có thể làm được start-up? Và start-up, về cơ bản, là cái gì? Những câu hỏi không cần câu trả lời, nhưng chưa bao giờ thừa để đặt ra và động tâm.

Vì mình muốn trồng cây. Và mình tin rằng không phải chỉ là trồng cây, mà là tạo ra một sự thay đổi diện rộng, và xây dựng những cộng đồng nhỏ hơn. Anarchy makes a lot of sense, in theory. Nhưng để có một thứ anarchy hữu dụng, và vẫn có thể hoạt động trong một thể chế thống nhất, thì chỉ có thể bắt đầu bằng những cộng đồng sống không dựa vào ai. Ăn sạch, ở sạch, sống sạch, và trên cả sạch: đi hồi phục cho con người và đất đai. Nhưng thôi, bài ca này giao giảng mãi rồi. Vấn đề của ngày hôm nay là mình đang tự hỏi người ta có thể trộn lẫn một mô hình kinh doanh-một công cụ của thời đại này- với một cái tầm nhìn cá nhân như trên đến mức nào.

II. Đặt Tầm Nhìn trong Hoàn Cảnh Cụ Thể

Mình tin rằng tạo hoá có những sắp đặt vi tế cho bất kì cuộc đời nào, dù trong bất cứ khoảnh khắc nào mỗi người vẫn có tự do ý chí. Hai thứ này-định mệnh và tự do để lựa chọn- hoạt động song song như thế nào, chỉ có chiêm nghiệm cuộc đời mới hiểu. Nhưng để hình dung, hãy tự hỏi: vì sao Musk, người rõ ràng là được sinh ra với cái gien (hay may mắn gì khác) để học và nhồi nhét mọi thứ, và có tất cả những tố chất và tính cách quyết liệt để đạt được những thành công mà Ashlee Vance đã lột tả, không hoàn thành những công việc của anh ta một cách trơn tru và toàn vẹn, mà phải trải qua bao sương gió và thử thách?

Với Musk, nhiệm vụ cuộc đời của bác là mở ra một con đường cho khoa học kỹ thuật đến với một kỷ nguyên mới: khám phá Sao Hoả, và các công nghệ sạch. Cái gì bác động tay vào, đội ngũ chuyên gia của bác đưa nó trở thành đầu ngành ngay lập tức, và làm cho tất cả những thứ đang có sẵn phải chạy dài theo. Dĩ nhiên, để phát triển như vậy thật sự cần nhiều đau đớn, cho chính bác, lẫn những người khác, nhưng nó đi kèm với nghĩa vụ cuộc đời và tầm nhìn.  Tầm nhìn kéo các công việc cần thiết được xảy ra ổn thoả, kéo Musk qua một vụ thập tử nhất sinh (một phần có lẽ để tập trung lại vào đúng việc cần làm, sau bài học kiếm tiền đầu tiên với Zip2), kéo Musk qua những trò tung hứng, và các loại xì-trét (li dị, phá sản, trục trặc kỹ thuật).

Quay lại chuyện trồng cây. Blog post gần đây nhất là chép lại từ một bài dịch mình làm free cho hội Biodynamic mà mình có tham gia. Dịch rồi thì thấy target audience của bài viết cũng không phải cho người Việt, và có lẽ cũng không có nhiều thông tin hữu dụng, hay là truyền cảm hứng, nhưng nhờ vụ dịch mà mình có được một cuộc nói chuyện ngắn với anh tổ chức lớp biodynamic, quote lại một phần ở dưới.

TT: Anh muốn nhân rộng và phát triển công đồng quan tâm đến môi trường sống đặc biệt nông nghiệp sinh thái bảo tồn. Cần có một đội nhóm cùng nhau chia sẻ những khó khăn vui sống cùng nhau. Em co thể gợi ý thêm sự kết nối hữu cơ này sao cho bền vững?

blue: nhân rộng thì nên có model, coi như một cái startup. Nhưng em nghĩ làm tốt một cái thì nó tự tràn ra.

TT: Uh, trong trường hợp này là liên quan mật thiết đến giáo dục dạy trẻ kỹ năng sống trở về với tự nhiên, mình cũng là đứa trẻ trong đó. Và có khu vườn theo định biodiversity. Cần có một đội ngũ cốt lõi luôn sống chết sát cánh bên nhau.

blue: Sẽ có những mảng anh phải delegate cho nhóm khác nữa. Nghĩ nó như một startup ấy, tìm người bao giờ cũng là vấn đề khó nhất, và những người đầu tiên thì nên làm hết việc và không quá đông. Người sáng lập chỉ nên có 2-3, đỡ cãi nhau, và có thể đi thật nhanh.

TT: Uh, mọi sự đều tắt khi ko có đồng đội. Anh cung nhận thấy mình bị tắt.

Và nhiều dự án của nhiều bạn anh gặp cũng tắt do khó khăn thắt chặt, chất chồng.

blue: cần có một chút business, em nghĩ vậy. Anh muốn mở trường, thì cần phụ huynh. Những khách hàng đầu tiên sẽ cực kỳ quan trọng, cần hiểu họ triệt để, serve họ ổn, có nguồn tiền ổn ổn, thì sẽ mở ra tiếp.

TT: vd thực tế: Anh có 2 ban nhỏ, anh thấy cần tạo sân chơi cho các bạn, anh làm. các bạn nhỏ khác cũng cần có sân chơi, vườn. Nên anh nghĩ se mo rong cho nhiều bạn vào, anh tiếp tục làm. Khi các ban nhỏ đông hon, anh thấy cần có đinh hướng cho các bạn nhỏ vừa chơi vừa học, anh lại đi học kỹ năng dạy trẻ, Steiner.

blue: Vâng. Nhưng khi cân nhắc vấn đề tài chính, mình phải detail đến mức có một profile đầy đủ, của những phụ huynh sẽ gửi con đến trường của mình. Chỉ cần 1 cái bức tranh về 1 người. Khi serve người đó tốt, thì tự những người gần gần với họ sẽ đến. 

Steiner là kiến thức bị động, còn mình vẫn cần build nó lại để phù hợp với mình.

Và, anh đã liên kết với các nhóm khác nhiều chưa?

TT: Vấn đề nó nằm ở đây.

Tất cả các bạn, các nhóm đều có ước mơ riêng. Do đó hoặc nhom các ban enjoy với anh hoặc anh enjoy cung, anh tự thấy mình cần đến với nhau. Tìm nhau. Làm cùng nhau.

Anh sẵn sàng, gia dinh anh sẵn sàng tham gia cùng nhóm các bạn.

blue: Thế giờ anh đang làm gì, và kẹt cái gì?

TT: Kiến thức tưởng nhiều nhưng thực tế giới hạn, chưa hội tụ với team nào đủ sâu.

Ước mơ lớn, bay bổng áp vào thực tế xã hội hiện tại chưa đến thời điểm.

Đi một mình đi nhanh, cô đơn. Anh cần làm một team thật sự quan tâm đến trẻ va môi trường sinh thái để đi xa.

Anh va không it bạn trẻ, có thể bao gồm blue, bị giới hạn và chưa có một đội ngũ để cùng nhau làm việc yêu thích, ăn ngủ, thao thức với nhau.

blue: Mọi thứ có lí do của nó, maybe. Em thoải mái với việc là người nhảy giữa các nhóm, và học, và đọc một đống các thứ cần đọc, và thí nghiệm với trồng cây, nhưng nhỏ thui. Vì em nghĩ phần việc của em thì chưa đến lúc, và có những thứ em thấy chưa ổn.

TT: , 3_5 năm chuẩn bị ban thân va đội nhóm để sẵn sàng. Anh nghĩ mình cũng cần làm một vài việc nho nhỏ cụ thể, có giá trị. Để bắt đầu những điều sắp đến khó khăn hơn.

Như em chia sẽ, mọi thứ sẵn sàng thì bữa tiệc chính thức bắt đầu!

DEC 3RD, 3:05PM

blue: Ở Sài Gòn, em quan sát thấy mọi thứ tách đàn quá dễ. Ví dụ riêng art scene, mọi người mỗi người một mạch. Các nhóm ko cần biết nhau nhiều. Người mở art gallery cứ mở art gallery, người đi chiếu phim cứ chiếu. Hà Nội tập trung hơn, nhưng lại chẳng làm gì.

Nếu chơi theo bài trong này, thì chắc cứ phải làm nhanh và xây nhiều

Em thì thoải mái với việc bản thân mình chỉ là một kiểu hỗ trợ, nên em cứ làm mấy việc này thôi. Đòi hỏi ăn ngủ với nhau và cùng làm có thể sẽ không thực tế, trừ phi nó ngắn hạn. Xong là xong.

Còn chuyện làm được hay không, thì thời cuộc thực ra yên bình mà rất loạn, nên mình cứ buông và nghỉ ngơi một chút, và làm từng chút từng chút. Em cũng bắt đầu lơi cái phần tâm linh ra để đụng lại vào một số thứ thực tế rồi, cũng chỉ vì trò chơi phân cực vui và phức tạp hơn em tưởng. Và em cảm nhận là commitment hiện tại nó sẽ thiếu hụt, và không thuyết phục. Chia ra tâm linh và khoa học cũng không tốt lắm, sẽ đến lúc nò cần hoà vào nhau

Riêng chuyện biodynamic cũng vậy, thực ra có một cái mà em thấy trong khoá học là mọi người rất chăm chăm hỏi các công thức như thế nào, chuẩn bị ra sau, ghi chép rất kỹ phần đó. Nhưng đó là rập khuôn. Tài liệu thì các nước có nhiều lắm, nhưng khi đem về đây thì mình phải học cho mình, và chấp nhận cả những thứ đau đớn đủ kiểu, thất bại và mọi thứ, vì những người làm ra những tài liệu kia cũng vậy thôi. Hội trồng cây của Findhorn không chỉ có permaculture, cũng nghiên cứu khoa học đủ kiểu, và communicate với cây cối và này nọ. 

Có lẽ, muốn mở lớp chỉ cần ý chí, và tinh thần đón nhận cái mới, và coi những cái mình sẽ có ở đây là một không gian để tất cả mọi người đồng sáng tạo.

DEC 3RD, 7:54PM

TT: Đồng ý với blue. Cuộc sống là phải sinh động sống động, việc hợp nhóm dùng cộng đồng mang tính chất hữu cơ, cùng sinh sống và sống động. Mọi người cần làm tất cả cái mọi người cần làm, nên làm. Chỉ đừng rời xa giá trị đã xác nhận từ ban đầu.

Đón nhận thực tế, học cái mới trong cái cũ kỹ…

Thông cảm cho sự hơi giống một bài phỏng vấn này. Nhưng sự thực là những thứ đang được xảy ra làm mình… bối rối. Những người làm những công việc mình cho là có ý nghĩa thì dường như chưa biết cách thực thi như thế nào cho hiệu quả, và chạy nó trên một cơ sở của wishful thinking. Có nét muốn tách mình ra khỏi xã hội, nhưng thực tế xã hội luẩn quẩn trong vô số các ngõ ngách của kế hoạch và tham vọng. Có lẽ câu chuyện đơn giản là chưa đủ người, hoặc chưa đủ những yếu tố cần thiết. Và quan trọng hơn là mình không thấy có trí tưởng tượng quá nhiều trong những học viên. Những công việc được thực thi cảm giác là những thứ rất hiền lành, có phần rập khuôn, và chưa robust.

Những người đi thiền thì vẫn đi thiền, và bắt đầu lên facebook và lôi cái sự tâm linh của mình ra như một chiếc bia đỡ đạn, để giảng đạo về những khái niệm kiểu như “khi bạn đã nhớ lại mình là ai thì sự hỗ trợ từ gia đình thật nhỏ bé, và không có nhiều ý nghĩa.” Có 100 nghìn đô để khởi nghiệp thì khác bắt đầu từ bàn tay trắng.

III. Cân Bằng và Hợp Nhất

Vài tháng trước, trong lúc mình còn ở Hà Nội loay hoay, đã có một anh bạn rủ mình làm một cái website lấy view kiếm tiền. Việc của mình lúc đó sẽ là viết content: các bài viết ngắn về astrology hoặc tarot và các thứ spiritual khác, và anh ta sẽ làm thế nào để trang web ăn được nhiều view nhất, và cạnh tranh với những thứ sẵn có–vì nói thật là những thứ sẵn có không có sự triệt để và tính toán về customer. Tuy kế hoạch không thành vì mình vướng quá nhiều thứ (và anh bạn có vẻ cũng sốt sắng, từ dạo đó ko hiểu sao đã block facebook của mình), nhưng hiện thực cho thấy sự phân hoá chuyên môn của xã hội sẽ gợi mở ra những tiềm năng mới cho những nhóm có thể đi trên nhiều đường cùng một lúc.

Việc đi trên nhiều đường cũng có thể thấy trong những thành công liên tiếp ở các mảng của Musk, từ chế tạo xe hơi cho đến phóng tên lửa tư nhân. Các project này liên tiếp thách thức những lối mòn của các ngành, nhưng chính bởi vì những làn sóng mới được bắt đầu bởi Musk quy tụ những kinh nghiệm và trải nghiệm rộng hơn việc chỉ chế tạo ô tô, hay đấu thầu công nghệ tên lửa. Những người đến với Musk không phải là những người trong nghề lâu năm, mà là những cá nhân trẻ trâu vừa tốt nghiệp và sẵn sàng thí nghiệm và “bring it down to the physics”, nhiều khi chế lại từ đầu những thứ đã tồn tại, nhưng có giá đắt đỏ và công nghệ lỗi thời. Những nhà sáng chế và những cá nhân sẵn sàng xây dựng những giá trị mới sẽ không thể sống trong những khuôn khổ của giấy tờ và sự quan liêu, và sự chuyên hoá mà không có tiếp thu.

Chợt nghĩ đến khái niệm: mỗi khoảnh khắc là một tổ hợp của tất cả các yếu tố của cuộc đời của mỗi người. Rằng cái toàn thể được gói gọn trong từng khoảnh khắc. Đau đớn và trầm cảm và thất vọng với cuộc đời, thường nằm trong việc không chấp nhận sự hợp nhất và toàn thể này, mà chạy theo một phần nhỏ của bản thân, từ chối sự hiện diện của những phần khác. Những người ngồi thiền quán, có lẽ hiểu việc này hơn cả: bao nhiêu xúc cảm và suy nghĩ, bao nhiêu cảm giác tinh tế trên cơ thể, hằng ngày hàng giờ không được ta ghi nhận, mà cứ trôi đi và làm con người ta mệt mỏi, thù hận, không tỉnh táo, không tĩnh tâm.

Ở một tầng cao hơn, xây dựng start-up cũng là một công việc cân bằng và hợp nhất giữa những luồng nhu cầu và khả năng, để tạo giá trị mới.

IV. Làm Thật, Sống Thật = Doing Things with Purpose

Khi nhìn một cách trần trụi hơn về vấn đề, mình thấy ý nghĩa của mục đích. Việc đi trên nhiều đường của Musk, thực ra nên hiểu một cách đơn giản hơn là việc có thể hiểu rõ mình đang làm gì và muốn cái gì. Tầm nhìn và mục đích rõ ràng, và đặt trong bối cảnh thực tế, thì sẽ sáng tạo ra những việc để làm, và thu hút những người có cùng rung động, và làm được việc.

Đặt vấn đề mục đích này ở Việt Nam như thế nào? Người ta nói nhiều đến một xã hội đầy những sự giả tạo, giả dối, chạy theo danh vọng. Điều này phản ánh lên sự ham hố bằng cấp, hay những lớp người đi ôm đồm những sự kiện, hội thảo nói về những nội dung chẳng liên quan mấy đến họ, họ đi vì danh tiếng và hiếu thị với diễn giả. Người ta đến nghe Ngô Bảo Châu mở event với Cedric Villani về toán, nhưng đến Q&A sẽ hỏi anh Châu về một cái gì đó đíu liên quan đến toán. Viêt Nam là đất nước duy nhất dung túng những bài phóng sự về các du học sinh- chưa hoàn thành giáo dục, chưa làm ra một thứ kết quả gì, nhưng đã có tiếng nói, và hàng trăm nghìn những cái like trên facebook. Đọc báo mạng Việt Nam, người ta luôn luôn cần một cái quạt của lý trí và kiến thức, để hất tung đám khói đi.

Bài học của Musk cho mình không phải là những thứ xa xỉ về công nghê, hay ý chí thách thức lề thói, mà quan trọng nhất là làm những gì đúng với mục đích của mình. Công việc này đòi hỏi nhiều sự tinh tế: chỉ một giây phút vô thức, người trồng cây hữu cơ có thể, thay vì tự trải nghiệm xem cây trồng và môi trường ở Việt Nam cần gì, sẽ lôi hàng tá sách vở ra dịch dọt không phân biệt và áp dụng rập khuôn cho vườn cây. Chỉ một giây vô thức, cùng một cô gái luôn luôn giao giảng về công bằng và bình đẳng trong xã hội, trong viết lách, có thể có những chiêu trò đâm sau lưng, thiên vị, không ghi nhận đóng góp của những người làm việc cho cô. Ranh giới mong manh, câu chữ và sự đẹp đẽ vô nghĩa thì dễ tuôn trào.

V. Đứt gãy sinh ra từ nền giáo dục

Nguồn gốc của sự thiếu mục đích này đến từ đâu? Một câu trả lời chính là giáo dục, hay đúng hơn là việc môi trường trường học chia rời những người trẻ khỏi xã hội và thực tế. Trường học vốn là một thứ sân chơi, để người ta thử các thứ ý nghĩa và tương tác với xã hội. Nhưng như trong một essay mình tâm đắc của PG, trường học là một chuỗi dài những bong bóng, vì những thứ anh làm trong trường học không có ảnh hưởng thực sự lên xã hội, và vì thế sẽ chỉ là trò chơi của bản ngã. Lại quote:

Teenage kids used to have a more active role in society. In pre-industrial times, they were all apprentices of one sort or another, whether in shops or on farms or even on warships. They weren’t left to create their own societies. They were junior members of adult societies.

Teenagers seem to have respected adults more then, because the adults were the visible experts in the skills they were trying to learn. Now most kids have little idea what their parents do in their distant offices, and see no connection (indeed, there is precious little) between schoolwork and the work they’ll do as adults.

And if teenagers respected adults more, adults also had more use for teenagers. After a couple years’ training, an apprentice could be a real help. Even the newest apprentice could be made to carry messages or sweep the workshop.

Now adults have no immediate use for teenagers. They would be in the way in an office. So they drop them off at school on their way to work, much as they might drop the dog off at a kennel if they were going away for the weekend.

Bài essay rất dài, bắt đầu từ một cái chủ đề cơ bản: tại sao bọn mọt sách lại không được ưa ở trường học. DĨ nhiên, đây là một vấn đề phổ biến hơn ở Mỹ, nhưng nó phản ánh những gì đang diễn ra ở cả VN một phần nào đó. Đoạn trích trên nói về việc thanh thiếu niên đã từng đóng một vai trò tích cực hơn trong xã hội, chính bởi vì không có cái gì gọi là trường học ngăn họ và thế giới của những người lớn.

Đây là lí do tại sao những đứa nhóc được nhồi nhét riêng, và cũng có một chút khả năng cá nhân về khoa học và toán, thường ổn hơn lúc đi học lên cao và làm việc: ít nhất, ở một mức độ cơ bản những đứa trẻ này không mất thời gian quá nhiều trong cái bong bóng của sự so sánh và vuốt mặt nhau về những giá trị rỗng và rời rạc, mà tập trung trí lực vào việc vượt qua những cái puzzle thực sự khó, và có ý nghĩa.

Nhưng người ta cũng có thể biến sự thi thố toán học–một trò chơi của trí tuệ và tìm tòi khám phá–thành một cuộc vuốt mặt nhau khác: học thuộc các dạng bài và đấu đá gà nòi. Một người có huy chương quốc tế ở cấp 3 trong một kì thi khoa học chưa chắc đã có khả năng nghiên cứu đột phá bằng một anh chàng học trường công ở Mỹ, nghịch ngợm với các thí nghiệm và các bài toán một cách rất nghiệp dư. Lí do đơn giản: những bài toán anh Mỹ làm được, tuy không nhiều, nhưng đều là do anh tự tìm tòi, tự mò ra, và anh hiểu vấn đề hơn, và anh năng động hơn. Đây là chuyện thật, đâu đó ở Illinois vài năm trước.

Với môi trường liberal arts college, với phần nhiều người thì đây là sự tiếp diễn của cái bong bóng. Xin được quay ra tự giật mình với bản thân vài phút. Ở Mỹ, con người ta vuốt mặt nhau qua cái mạng lưới xã hội sẵn có trên facebook của mình. Người ta khoác lên mình những chiếc áo mới: feminist, liberal, democrat, realist, vân vân, và chơi những trò chơi gọi tên và bàn luận mới. Có ý kiến là điều tốt, và giải thích được những ý kiến đó một cách rành rọt thì càng tốt, đọc thấy mê mẩn. Nhưng bên cạnh đó mình ngờ ngợ rằng trò chơi chữ nghĩa này sắp kết thúc, và mình ngờ ngợ rằng có một sự hẫng hụt nào đó đang chờ đợi. Dấu hiệu của sự hẫng hụt bắt đầu từ việc phản ứng dường như đồng nhất của các du học sinh về việc Donald Trump đắc cử Tổng Thống: bởi vì con người ta cùng đi vào một cái kiểu lớp học, và cùng bàn luận một thứ câu chuyện, bằng một loại ngôn ngữ. Những con cá thì không cần biết mình đang bơi trong nước, vì ngoài nước thì không có gì khác.

VI. Kết nối và Chấp Nhận

Mình không có ý kiến tích cực về việc du học sinh nên về Việt Nam hay nên ở lại. Vì vấn đề lớn nhất mà mình nhìn thấy được không phải là cái sự phân biệt về-ở này, mà là người ta chưa giải quyết được hai câu chuyện giá trị và mục đích. Và thực ra, chuyện về hay ở, nếu chỉ nhìn theo cái lăng kính của hai câu chuyện kia, thì chỉ là việc chọn cho mình một môi trường như thế nào, và nhìn được gì từ những môi trường đó.

Có rất nhiều cách để nhìn ra các khía cạnh khác nhau của các môi trường khác nhau. Giả dụ nếu anh muốn làm khoa học chính thống, tiếp tục trò chơi tháp ngà, thì ở Việt Nam khó ra phết–nhưng đây không phải là câu chuyện vô tiền khoáng hậu, chính bởi vì đã có những nhà khoa học có đào tạo xịn bắt đầu về và thẩm thấu và trải thảm cho những người đi sau. Với phần lớn những thứ khác, có lẽ câu chuyện chỉ gói lại ở việc có bao nhiêu tiền, và làm việc cho ai, và làm việc gì.

Khoảng hơn 2 năm trước, một người ban mình rất quý đã bỏ ngang về Việt Nam một phần vì, khoảng hơn một năm sau bạn thú nhận, bạn ngộp thở trong cái thứ mô hình classroom discussion của các anh Mỹ. Người ta luyên thuyên để lấy credit và tỏ ra mình có quan tâm đến vấn đề, hơn là thực sự quan tâm. Người bạn ấy về Việt Nam và đi làm những thứ củ nghệ – chiếu phim, dịch thuật, và giúp xuất bản thơ văn, và thực sự có những thứ discussion ở các không gian khác. Trong vô số các buổi trà đá và đi bộ loanh quanh với bạn, mình lại nghe bạn than gặp một bà tây nào đó là alumni trường bạn, hay những cái đuôi từ hồi cấp 3 lại muốn hỏi han bạn làm gì, sẽ làm gì, sẽ ra làm sao, và hai đứa cười phá lên. Mình trân trọng người bạn, vì bạn chấp nhận rủi ro để đối mặt với câu chuyện mục đích và giá trị. Dẫu sao, định mệnh cũng là một thế lực quá mạnh, và càng mạnh trong một thời đại các khuôn khổ xã hội đang bị bóc ra theo từng lớp.

VII. Chuyển Hoá Mới-Cũ

Bài viết này bắt đầu từ việc bóc tách khái niệm rằng đặc biệt hoá ở thời đại này là không đủ cho một cuộc sống trọn vẹn và cân bằng, nhưng nó lại dẫn đến việc chỉ trích một môi trường giáo dục đã khá là tránh né việc đặc biệt hoá. Thực ra, mình không chỉ trích sự tránh đặc biệt hoá, mà mình chỉ cho rằng việc đưa ra một sự tránh né đặc biệt hoá không giải quyết được vấn đề.

Trong khi các Liberal Arts College đưa ra cái trụ là việc 2 năm học các môn đại trà sẽ giúp một người sinh viên chọn lựa ngành học tốt hơn, nó cũng tạo ra sự chây lười trong suy nghĩ. Những kì học đầu tiên ở Mỹ, mình có một sự thích thú đi kèm băn khoăn, vì bước vào những lớp học nhập môn về triết, hay văn học, hay viết lách, cảm giác không khác vào một lớp tiểu học lắm, khi không ai biết một cái gì và mọi người thích nói gì thì nói.

Người ta vẫn ở trong một cái vòng luẩn quẩn mà người học không khớp cái mình học với mục đích của mình, đặc biệt hoá hay không.

Lại văng vẳng câu nói mình tâm đắc từ ông chú ruột: rằng học để làmhọc để không làm là hai thứ quan trọng như nhau. Có nhiều cách đề nhìn câu nói: rằng học để có bằng thì không đủ, rằng học để làm cũng quan trọng nhưng thường bị coi thường. Trước thế hệ của chú, người ta còn không có dịp được đi học, không có giáo dục, vì những gián đoạn của chiến tranh: xã hội vẫn chuyển mình. Có một thế hệ đại gia từ Tiệp và Nga, đều là những người đi học kỹ sư không thành, và chuyển sang làm con buôn.

Đã từ bao giờ một đất nước không còn một nền tri thức rõ rệt như Việt Nam đòi hỏi người ta phải có những tấm bằng đại học, cao học vô giá trị?

Bài viết của Paul Graham được viết ra từ năm 2003, 13 năm trước. Khi các nước bắt đầu vặn vẹo và chuyển mình, thách thức sự cần thiết của một nền giáo dục chính thống, Việt Nam mới bắt đầu loay hoay cải cách giáo dục.

Nghĩ về câu nói của chú, mình cho rằng cái gì cũng là học để làm, hoặc ít nhất là hướng đến việc để làm. Cái này không liên quan đến đặc biệt hoá hay không, không liên quan đến việc chọn một trường đại học có chuyên hoá ngành từ đầu hay không–dù dĩ nhiên nếu ai đó có may mắn chọn được cái mình muốn và học thẳng một mạch thì quá tốt. Người bạn của mình là một điển hình, đang trên đường đi học PhD sau nhiều năm cày cuốc đúng ngành mình thích. Nhưng mình cũng sẽ không thể chấp nhận khi bạn nói một cách khá coi thường về những người bạn khác từ cấp 3 không được may mắn chọn cái mình muốn.

Đôi khi, những lề thói có sẵn chưa có cái mình cần và muốn. Đôi khi, bài học cuộc đời rộng hơn là việc đi học và sách vở trường lớp. Đôi khi, người ta phải tự xây một cái trường học cho chính mình, và cho người khác.

Vậy việc này liên quan gì đến start-up? Có lẽ chẳng có thứ ẩn dụ nào cho cuộc đời của những người đi tìm giá trị hơn việc làm một cái start-up. Cũng là xác định người khác cần gì, và mình có thể offer được cái gì, và mình có những ý tưởng gì. Và đôi khi trò chơi còn ít khuôn khổ hơn: mình có cần tiền không? MÌnh có cần thay đổi thế giới không? Thực ra, việc mình là một minh chứng sống của một hệ thống hoàn chỉnh, một phong cách sống riêng, đó chính là thay đổi thế giới rồi đấy chứ.

Happy brainstorming.