5

IFHTP


Leave a comment

Dịch: Antidisciplinary – Joi Ito

Bài Antidisciplinary của Joi Ito là bài viết định hình các thứ dự án được hình thành ở MIT Media Lab, một sân chơi sáng tạo vô cùng thú vị, và theo mình là một mô hình quan trọng để hình dung, nếu muốn thực sự quan tâm đến sáng tạo giá trị ở VN–trước một hệ thống giáo dục và nghiên cứu còn-lâu-mới-đủ-lực, trước dòng chảy máu chất xám không ngừng nghỉ, và một chính phủ bị động trước các xu hướng của thế giới. Mình không ám chỉ mọi người nên “cut corners” và chỉ chú trọng vào phản ngành, nhưng để thấy kể cả khoa học cũng có những giới hạn hiện tại, chứ không phải tuyệt vời ông mặt trời và được lôi ra không cần phản biện như một số nhóm thảo luận chỉ-có-ở-Việt-Nam có nói gần đây: bài viết sẽ là một cách nhìn thú vị về khoảng trống khoa học chưa lấp đầy được. Bỏ qua động thái chính trị hoá kiến thức của các nhóm thảo luận nêu trên, mình cũng ngờ ngợ rằng chính bởi sự thiếu thốn một nền học vấn quy củ và công khai nên dường như mới có một sự ngây thơ về các phương thức và hệ thống của phương Tây–một kiểu đứng núi nọ trông núi kia. Mình cho rằng sự ngây thơ này không hoàn toàn xấu: nó cho con người khả năng nhạy cảm và đắm đuối trong hiện thực, hơn là câu chuyện lúc nào cũng phải optimize và tôn thờ các giá trị tư bản. Có thể chính đây sẽ là một góc văn hoá riêng của quê nhà để giúp định hình lại việc nghiên cứu và sáng tạo giá trị theo một đường hướng mới.

Cuối cùng thì, cái gì cũng cần chất lượng. Bản thân Joi Ito, một người hai lần bỏ học, cũng đã từng phát biểu rằng các bạn không nên bắt chước ổng, vì những thứ ông đạt được không phải vì ông không có bằng đại học, mà là ông đạt được chúng mặc dù ông không có bằng đại học. Việc quan trọng vẫn là tìm giá trị, và những cá nhân/ nhóm thực sự có đủ nền tảng để tìm giá trị.

______________________________________________________________

Phản Ngành  – Joi Ito

2 Tháng 10 Năm 2014

Một trong những từ đầu tiên tôi được nghe thấy khi mới tham gia vào Media Lab là “phản ngành” (antidisciplinary). Từ này được vạch ra dưới dạng điều kiện trong một thông cáo tìm một vị trí giảng dạy mới cho Media Lab. Làm việc một cách liên ngành là hiện tượng nhiều người từ các ngành học khác nhau làm việc cùng nhau. Một dự án phản ngành, mặt khác, không phải là tổng của một đám các ngành khác nhau mà là một cái gì hoàn toàn mới—khái niệm “phản ngành” ở đây thật khó để định nghĩa đơn giản. Nhưng với tôi từ này có nghĩa là một ai đó hoặc một cái gì đó mà không khớp với một ngành học thông thường—một lĩnh vực nghiên cứu với những từ ngữ, những nền tảng, và những cách thức của riêng nó. Phần lớn các học giả bị đánh giá bằng số lần họ đăng bài trong các tạp chí khoa học danh giá và có bình duyệt [1]. Bình duyệt thường bao gồm các học giả có ảnh hưởng trong ngành học của bạn thẩm định thành quả nghiên cứu và quyết định xem nghiên cứu này có quan trọng và độc đáo hay không. Kiểu cấu trúc này thường dẫn đến động thái những nhà nghiên cứu tập trung nhiều vào việc gây ấn tượng tốt với một nhóm nhỏ các chuyên gia trong ngành của mình hơn là mạo hiểm táo bạo với một cách tiếp cận vấn đề mới mẻ. Động thái này củng cố cái cliche của việc các học giả tập trung càng ngày càng nhiều vào càng ngày càng ít những kiến thức giá trị. Nó tạo ra một hiện tượng siêu-đặc biệt hoá khi mà nhiều người trong các mảng kiến thức khác nhau gặp rất nhiều khó khăn trong việc hợp tác—hoặc thậm chí là trao đổi—với những người khác ngành. Với tôi, nghiên cứu phản ngành giống như là quan sát nổi tiếng của nhà toán học Stanislaw Ulam rằng việc học vật lý phi-tuyến tính giống như việc học những “động vật phi đại tượng” [2].

Media Lab tập trung vào “sự độc đáo, khả năng ảnh hưởng, và sự màu nhiệm.” Những gì sinh viên và giảng viên của chúng tôi làm nên là duy nhất. Chúng tôi không nên làm những gì mà người nào khác đang làm. Nếu có nhóm nào khác bắt đầu làm cùng việc đó, chúng tôi nên dừng lại. Mọi thứ chúng tôi làm đều nên có tầm ảnh hưởng. Cuối cùng, mọi thứ nên thôi thúc chúng tôi trở nên đam mê và nên nằm ngoài giới hạn của những bồi đắp ý tưởng thông thường [3]. “Màu nhiệm” có nghĩa là chúng tôi sẽ nhận làm những dự án cho chúng tôi nhiều cảm hứng. Ví dụ, trong nhóm Mẫu Giáo Suốt Đời [4], các nhà nghiên cứu thường mô tả “Bốn P của Học một cách Sáng Tạo”, là “Projects” (Dự Án), “Peers” (Bạn/ Đồng Nghiệp), “Passion” (Đam Mê), và Play (Chơi). Khái niệm chơi cực kỳ quan trọng với việc học một cách sáng tạo. Có rất nhiều nghiên cứu thể hiện rằng các phần thưởng hoặc áp lực có thể thúc đẩy mọi người “sản xuất”, nhưng học và suy nghĩ sáng tạo cần cái “không gian” mà việc chơi tạo ra. Áp lực và phần thưởng thường làm bé đi cái không gian đó đó, và vì thế, giới hạn việc học sáng tạo.

 

Kiểu học giả mà chúng tôi đang tìm kiếm tại Media Lab là những người không khớp với bất kỳ một ngành nào nào, có thể vì họ nhảy giữa—hoặc thậm chí đơn giản là vượt ra ngoài khuôn khổ của—nhiều ngành. Tôi thường nói rằng nếu bạn có thể làm được những việc bạn muốn trong bất kì một phòng nghiên cứu hoặc khoa nghiên cứu nào khác, bạn nên hoàn thành chúng ở đó. Chỉ đến với Media Lab khi bạn không thể tìm ra được một nơi nào khác để làm việc bạn cần làm. Chúng tôi là nhà của những kẻ không phù hợp với mọi nơi—nhưng người phản ngành.

 

Khi tôi nghĩ về “không gian” mà chúng tôi đã tạo nên, tôi thích hình dung một trang giấy khổng lồ đại diện cho “toàn cục khoa học”. Những ngành nghiên cứu sẵn có là những điểm đen được chấm trên trang giấy. Còn không gian khổng lồ bị bỏ trắng giữa những điểm chấm này đại diện cho kiến thức phản ngành. Rất nhiều người muốn chơi và nghịch ngợm trên không gian trắng này, nhưng có rất ít tiền trợ cấp cho việc này, và nó càng khó hơn để tìm được một vị trí nhiệm kỳ [5] mà không có một cái mỏ neo độc ngành lên một trong những chấm đen nào đó.

 

Trong khi chúng tôi tiếp tục cố gắng tiếp cận với việc giải quyết các vấn đề càng ngày càng nan giải mà đòi hỏi nhận thức từ rất nhiều ngành và góc độ khác nhau, sự phân biệt và phân hoá giữa các ngành học dường như chỉ tạo thêm cản trở và phá hoại. Chẳng hạn hệ thống phức tạp, chính là cơ thể người, đã trở nên đa ngành một cách không tưởng. Chúng ta nên thật sự cùng nhau làm việc trong “Một Khoa Học” thống nhát, nhưng thay vì vậy chúng ta là một cái tranh ghép của nhiều ngành kiến thức, thậm chí đôi khi không nhận ra rằng chúng ta đang cùng nhìn vào một bài toán, vì ngôn ngữ giữa các ngành thật khác nhau và các kính vi phân thì dường như không được đồng nhất.

 

Trung Tâm Mô Phỏng Sinh Học Cực Đoan (Center for Extreme Bionics) tại Media Lab—dẫn đầu bởi Hugh Herr, Ed Boyden, Joe Jacobson, và Bob Langer—sử dụng mọi thứ từ cơ khí chế tạo cho đến sinh học tổng hợp cho đến thần kinh học trong hành trình xoá bỏ một nhóm các loại dị tật. Tập hợp các ngành khác biệt này sẽ không bao giờ khớp với bất kì một phòng nghiên cứu hay viện nghiên cứu truyền thống nào.

 

Nhà đồng sáng lập của Media Lab, Nicholas Negroponte đã từng phát biểu chơi chữ với châm ngôn về học thuật rằng các giáo sư phải “xuất bản hoặc bị xoá sổ” [6]. Các giảng viên của Media Lab, theo ông, phải “trình diễn sản phẩm hay là chết”[7]. Tôi đã đưa ra một thay đổi nhỏ cho cụm từ này- “triển khai hay là chết”[8]. Tôi muốn tất cả các giảng viên và sinh viên tại Media Lab bắt đầu nghĩ về việc những công trình của họ sẽ triển khai ngoài đời thật như thế nào, và nếu họ có thể tự triển khai chúng, càng tuyệt vời.

 

Tôi nghĩ triết lý về việc cùng nhau làm việc trên những dự án lớn sẽ đem những nhà nghiên cứu đến với nhau từ nhiều ngành khác nhau – và cùng nhau xây dựng một nền khoa học thống nhất thay vì những ngành khoa học rời rạc. Chúng ta sẽ vẫn cần các ngành, nhưng tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta tập trung vào một sứ mệnh cao hơn và tập trung vào những thay đổi cần thiết trong học thuật và tài trợ vốn cho nghiên cứu để cho phép nhiều người có thể làm việc trong những mảng trắng giữa các ngành khoa học – khoảng không gian phản ngành.

 

Update: một thành viên của Media Lab đã chỉ ra rằng các ngành thì giống như những đường bao rất chung chung và phần lớn những bài báo nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất thường nằm trong các không gian phản ngành và mang tính đột phá.

 

NOTE từ người dịch

[1] peer review

[2] non-elephant animals

[3] incremental thinking (versus monumental thinking) chỗ này dịch hơi khó, ban đầu tớ định dùng suy nghĩ thông thường, để đối lại với phi thường, nhưng thế thì lại mất nghĩa của từ incremental. Incremental Thinking là lối suy luận xây dựng từ các ý tưởng/ giả định có sẵn ban đầu, nhưng tương đối tuyến tính/ theo cấp số cộng. Ở đây không non-incremental thinking theo Joi chắc là những cách tiếp cận vấn đề không mang tính bồi đắp lên nhau này, mà có thể là tái định hình các giả định/ ý tưởng ban đầu.

[4] Lifelong Kindergarten

[5] tenured

[6] publish or perish (tiếc rằng không thể dịch và giữ được sự “chơi chữ” của [6], [7], và [8], nhưng tớ nghĩ cũng khá sát về âm điệu!)

[7] demo or die

[8] deploy or die

Advertisements


Leave a comment

Dịch: A Taste for Makers – Paul Graham

I spent the first months of this 2017 reading all of Paul Graham’s essays, and needless to say the experience changed me–for better or worse. Since I’ve been translating quite the self-help mix, I thought I’d also add this, as tribute, and as another fun thing to do. Translating this huge thing got me to interact with the essay on a much deeper (and perhaps more minute/trivial) level.

Taste for Makers – PG

________________________________________________________________

Khiếu thẩm mỹ[0] cho những nhà sáng chế – Paul Graham

Tháng 2 năm 2002

“Các chống đối về thẩm mỹ của Copernicus liên quan đến [các điểm tâm sai] đã cung cấp động cơ thiết yếu cho việc bác bỏ hệ thổng Ptolemy của ông…”

– Thomas Kuhn, Cuộc Cách Mạng của Copernicus

“Tất cả chúng tôi đã được huẩn luyện bởi Kelly Johnson và tin tưởng một cách cuồng tín vào đòi hỏi khăng khăng của anh ấy rằng một cái máy bay mà trông đẹp thì sẽ bay đẹp tương tự.”

-Ben Rich, Skunk Works

“Tính đẹp là bài kiểm tra dầu tiên: không có chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí.”

-G.H. Hardy, Lời Xin Lỗi của một Nhà Toán Học

Tôi vừa nói chuyện với một anh bạn giáo sư ở MIT. Ngành của anh ta đang lên và hằng năm anh bị ngập trong các hồ sơ apply của các nghiên cứu sinh tiềm năng. “Phần lớn đám này đều có vẻ thông minh,” anh bình luận. “Cái mà tôi không thể chắc chắn là nếu họ có chút khiếu thẩm mỹ gì không.”

Khiếu thẩm mỹ. Bạn không hay nghe về từ [1] này. Vậy mà chúng ta luôn cần cái khái niệm đứng sau nó, dù ta có gọi đó là gì đi nữa. Ý anh bạn tôi là anh muốn các sinh viên vừa giỏi về mảng kỹ thuật, nhưng đồng thời cũng có thể dùng kiến thức kỹ thuật ấy để thiết kế những thứ thật đẹp.

Các nhà toán học gọi các công trình nghiên cứu tốt là “đẹp,” và dĩ nhiên, dù bây giờ hoặc trong quá khứ, điều này cũng đúng với các nhà khoa học, các kỹ sư, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, nhà văn, và các hoạ sĩ. Liệu đây có phải là một sự trùng hợp khi tất cả mọi người dùng cùng một từ, hay là có một cái gì đó thực sự chung giữa ý của mỗi nhóm? Nếu thực sự có một cái gì đó tương đồng, liệu chúng ta có thể dùng các khám phá trong một ngành để hỗ trợ một ngành khác?

Với những người có thiết kế các sản phẩm, đây không phải là những câu hỏi lý thuyết. Nếu thực sự có một cái gì đó là cái đẹp, chúng ta cần có khả năng nhận dạng nó. Chúng ta cần khiếu thẩm mỹ tốt để tạo ra những sản phẩm tốt. Thay vì coi cái đẹp là một khái niệm trừu tượng bay bổng, để nói nhảm hoặc né tránh tuỳ theo cách mỗi người cảm nhận về các khái niệm trừu tượng bay bổng, hãy thử suy nghĩ về nó như một câu hỏi thực tế: làm thế nào để tạo ra những sản phẩm tốt?

Nếu bạn nhắc đến khiếu thẩm mỹ ngày nay, rất nhiều người sẽ bảo với bạn rằng “khiếu thẩm mỹ [2] là chủ quan.” Họ tin vào điều này vì họ thực sự cảm nhận như vậy. Khi họ thích một cái gì đó, họ không biết tại sao. Có thể vì cái thứ họ thích thật đẹp, hoặc vì mẹ của họ có một cái tương tự, hoặc vì họ thấy một diễn viên nổi tiếng đeo nó trong trang bìa một tờ báo, hoặc vì họ biết rằng nó thực sự đắt. Các suy nghĩ của họ là một mớ bòng bong các thôi thúc không được phân tích.

Phần lớn chúng ta từ nhỏ đã được khuyến khích từ bỏ phân tích và thấu hiểu các thôi thúc này. Nếu bạn trêu chọc em trai mình vì “tội” tô màu mọi người màu xanh lá trong sách tô màu của mình, nhiều khả năng mẹ bạn sẽ nói với bạn một cái gì đại loại như là “con thích tô màu kiểu của con và em thích tô màu kiểu của em.”

Mẹ bạn vào lúc này đang thực sự không cố gắng dạy bạn các sự thật quan trọng về thẩm mỹ. Mẹ bạn chỉ cố gắng dừng cãi nhau giữa bạn và em trai bạn.

Giống như những sự nửa-thật khác mà người lớn nói với chúng ta, cái này đi ngược với nhiều điều khác họ dạy. Sau khi nhồi nhét tư tưởng rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là vấn đề lựa chọn cá nhân, họ dẫn bạn đi dến các bảo tàng lớn và nói với bạn rằng con nên tập trung xem tranh vì Leornado là một nghệ sĩ vĩ đại.

Cái gì xảy ra trong đầu đứa trẻ vào lúc này? Nó sẽ nghĩ “nghệ sĩ vĩ đại” có ý nghĩa gì? Sau khi được bảo rằng mỗi người thích làm các thứ theo ý mình, đứa trẻ sẽ ít có khả năng đi thẳng đến kết luận rằng nghệ sĩ vĩ đại là một người mà các tạo phẩm của họ tốt hơn bất kì tạo phẩm của ai khác. Một khả năng lớn hơn nhiều, trong mô hình Ptolemy mô phỏng thế giới của đứa trẻ, là một nghệ sĩ vĩ đại là một cái gì đó tốt cho bạn, giống như súp-lơ tốt cho sức khoẻ, chỉ vì ai đó nói thế trong một cuốn sách.

Nói rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là ưa thích cá nhân là một cách tốt để phòng ngừa tranh cãi. Vấn đề là, nó không đúng. Bạn cảm thấy điều này khi bạn thực sự thiết kế các thứ.

Bất kể trong nghề gì, tự nhiên mọi người đều muốn làm tốt hơn. Các cầu thủ bóng bầu dục muốn thắng các trận bóng. Các CEO muốn kiếm nhiều tiền hơn. Đây là một vấn đề của tự hào, và một niềm hạnh phúc, để được trở nên tốt hơn trong nghề. Nhưng nếu nghề của bạn là thiết kế các thứ, và nếu không có gì là cái đẹp, thì thực sự không thể có một cách nào để làm tốt hơn trong nghề của bạn. Nếu mọi thứ chỉ là ưa thích cá nhân, thì tất cả mọi người đều đã hoàn hảo: bạn thích cái gì bạn thích, và chỉ như vậy là đủ.

Giống như trong mọi nghề khác, khi bạn liên tục thiết kế các thứ, bạn trở nên giỏi hơn trong việc thiết kế. Khiếu thẩm mỹ của bạn thay đổi. Và giống như tất cả những người trở nên giỏi hơn trong nghề, bạn biết rằng bạn đang trở nên tốt hơn. Nếu thế, những cái cảm nhận thẩm mỹ [3] cũ của bạn không chỉ khác, mà còn kém hơn cái bạn đang có. Tiên đề nói rằng khiếu thẩm mỹ không thể “sai” vừa bị tôi cho bốc hơi.

Chủ nghĩa tương đối đang thịnh hành ở thời đại này, và nó có thể sẽ cản trở bạn trong việc suy nghĩ về khiếu thẩm mỹ, kể cả khi khiếu thẩm mỹ của bạn lớn lên. Nhưng khi bạn đi ra khỏi phòng ngủ và thú nhận, ít nhất là với bản thân, rằng có một cái gì đó gọi là thiết kế tốt và thiết kế kém, bạn có thể bắt đầu học về các thiết kế tốt một cách cặn kẽ. Khiếu thẩm mỹ của bạn đã thay đổi như thế nào? Khi bạn phạm sai lầm, cái gì làm điều đó xảy ra? Mọi người khác đã học gì về thiết kế?

Khi bản thực sự tìm hiểu câu hỏi, thật đáng ngạc nhiên rằng các khái niệm về cái đẹp của các ngành khác nhau có nhiều điểm chung như vậy. Các quy luật về thiết kế tốt xuất hiện đi xuất hiện lại.

Thiết kế tốt thì đơn giản. Bạn được biết về điều này từ toán học cho đến mỹ thuật. Với toán học một chứng minh ngắn hơn thường là một chứng minh tốt hơn. Đặc biệt là với các tiên đề, càng ít càng tốt. Điều này gần như không khác gì trong lập trình. Với các kiến trúc sư và nhà thiết kế, cái đẹp chỉ nên dựa trên một vài yếu tố về cấu trúc được chọn lựa kỹ càng, thay vì quá nhiều những tô vẽ hời hợt. (Bản thân trang trí không phải cái xấu, trừ phi nó bị che đậy dưới sự vô vị. ) Tương tự, trong mỹ thuật, tranh tĩnh vật của một vài đồ vật được quan sát cẩn thận và sắp xếp chắc chắn thường sẽ thú vị hơn một dải tranh vẽ những thứ bóng bẩy nhưng lặp lại một cách vô thức của, ví dụ, một cái ren cổ áo. Trong viết lách, điều này có nghĩa là: nói đúng cái mình nghĩ và nói một cách ngắn gọn thôi.

Có vẻ kì lạ khi tôi nhấn mạnh sự đơn giản. Bạn nghĩ đơn giản sẽ là mặc định. Hào nhoáng là thêm việc. Nhưng có vẻ có cái gì đó ám ảnh con người ta khi họ cố gắng sáng tạo. Các nhà văn mới bắt đầu thường sử dụng một giọng văn mỹ miều mà không giống cách họ nói chuyện bình thường một tí nào. Các nhà thiết kế cố gắng thể hiện tính nghệ thuật hạ mình xuống mức nguệch ngoạc và tô vẽ cong cớn [4]. Các hoạ sĩ phát hiện ra là họ theo chủ nghĩa biểu hiện. Tất cả đều chỉ là né tránh. Dưới tất cả những từ ngữ dài dòng và những đường cọ đầy nét “biểu hiện” , không có gì thực sự xảy ra, và điều này thật đáng sợ.

Khi bạn bị bắt buộc phải đơn giản, bạn bị bắt phải đối mặt với vấn đề thật sự. Khi bạn không thể cung cấp sự tô vẽ, bạn phải cung cấp phẩm chất. [5]

Thiết kế tốt thì bất hủ. Trong toán học, mọi chứng minh là mãi mãi cho đến khi nó có một lỗi sai. Vậy ý Hardy là gì khi nói rằng không có một chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí? Ý ông giống điều mà Kelly Johnson từng nói: nếu có gì đó xấu xí, nó không thể là giải pháp tốt nhất. Phải có một cái gì đó tốt hơn, và cuối cùng thì sẽ có ai đó tìm ra nó.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để đảm bảo bạn tìm được câu trả lời tốt nhất. Nếu bạn có thể tưởng tượng ai đó vượt qua bạn, bạn nên tự làm. Một vài vị bậc thầy giỏi đến mức họ để rất ít chỗ cho những người đi sau sáng tạo thêm. Tất cả những nhà điêu khắc sau Durer phải sống dưới cái bóng của ông.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để tránh ảnh hướng của thời trang. Thời trang theo định nghĩa là phải thay đổi theo thời gian, vì vậy nếu bạn có thể làm cái gì đó mà vẫn tốt trong tương lai lâu dài thì sự hấp dẫn của sản phẩm đó phải đến từ bản chất của nó chứ không phải từ thời trang.

Tương đối kỳ lạ là nếu bạn muốn chế ra cái gì đó mà sẽ hấp dẫn các thế hệ trong tương lai, một cách để triển khai là tìm cách hấp dẫn các thế hệ trong quá khứ. Rất khó để đoán được tương lai sẽ như thế nào, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ giống quá khứ trong việc không quan tâm gì đến những thứ đang là thời thượng. Vì vậy nếu bạn có thể làm gì đó hấp dẫn mọi người của thế hệ này và cũng đã có thể hấp dẫn những người ở thế kỉ 15, có khả năng nó cũng sẽ hấp dẫn những người ở thế kỷ 25.

Thiết kế tốt giải quyết đúng vấn đề. Một chiếc bếp ga điển hình có bốn lò được xếp ở 4 góc của hình vuông, và mỗi lò một tay vặn để chỉnh. Làm sao để sắp xếp các tay vặn? Câu trả lời đơn giản nhất là đặt chúng theo một hàng, nhưng đây là câu trả lời đơn giản cho một câu hỏi sai. Các tay vặn là để cho người dùng, và nếu bạn đặt nó theo một hàng, người dùng không may mắn sẽ phải dừng lại và nghĩ mỗi lần dùng xem tay vặn nào đi với lò nào. Tốt hơn là xếp các tay vặn theo hình vuông theo những cái lò.

Rất nhiều các thiết kế tồi thường khá cần mẫn, nhưng lệch hướng. Vào giữa thế kỷ hai mươi, có một xu hướng để chữ theo phông sans-serif. Các phông chữ này đúng là sát với các dạng chữ thuần khiết và cơ bản nhất. Nhưng trong việc đánh chữ đó không phải là vấn đề bạn muốn giải quyết. Để cho mọi thứ dễ đọc thì việc quan trọng hơn là các chữ cái phải dễ phân biệt với nhau hơn. Có thể nó sẽ hơi bắt chước thời đại Victoria, nhưng một chữ g không viết hoa theo phông Times Roman thì dễ phân biệt hơn một chữ y cùng dạng.

Các vấn đề cũng có thể được cải tiến như với các giải pháp. Trong lập trình, một vấn đề nan giải thường có thể thay thế bằng một vẫn đề khác tương đương nhưng lại dễ giải quyết. Ngành vật lý phát triển nhanh hơn khi các vấn đề trở thành việc dự đoán các hành vi và hiện tượng có thể quan sát được, thay vì tạo kết nối giữa những hiện tượng này với lý thuyết [6].

Thiết kế tốt thì khơi gợi. Các tiểu thuyết của Jane Austen chứa trong chúng gần như không một chút miêu tả nào; thay vì tả cho bạn mọi thứ trông như thế nào, nhà văn kể chuyện tài tình đến mức bạn tự mình hình dung ra cảnh vật. Tương tự, một bức tranh mà khơi gợi thì thường lôi cuốn hơn một bức tranh kể lể. Tất cả mọi người đều tự chế ra các câu chuyện của riêng mình về bức Mona Lisa.

Trong kiến trúc và thiết kế, quy luật này có nghĩa là một toà nhà hay một đồ vật nên để bạn dùng nó theo những cách của riêng bạn: một toà nhà thiết kế tốt chẳng hạn, sẽ là nền tảng cho bất kì kiểu cách sống nào mọi người muốn có, thay vì làm họ sống trong cảm giác phải chạy theo một chương trình được viết sẵn bởi kiến trúc sư.

Trong lập trình, điều này có nghĩa là bạn nên cho những người dùng một vài yếu tố cơ bản để họ có thể kết hợp nếu muốn, giống như Lego. Trong toán học, nó có nghĩa là một chứng mình mà trở thành nền tảng cho rất nhiều các nghiên cứu mới thì hay hơn là một chứng minh mà cực kỳ khó nhưng không dẫn đến các khám phá trong tương lai; trong các ngành khoa học điều này tương đương với việc lượng trích dẫn được coi là một dấu hiệu thô sơ của sự xứng đáng.

Thiết kế tốt thì thường hơi buồn cười. Điều này có thể không đúng lắm. Nhưng điêu khắc của Durer và ghế tử cung của Saarinen và đền Pantheon và mẫu xe gốc cho Porsche 911 đều có vẻ hơi ngộ nghĩnh với tôi. Định lý bất toàn của Godel nghe như một trò đùa trêu ngươi. [7]

Tôi nghĩ bởi vì tính hài hước thì liên quan đến sức mạnh. Để có khiếu hài hước thì ta cũng cần mạnh mẽ: để giữ lập trường và cảm nhận về hài hước thì cần biết giũ đi những điều bất hạnh, và để mất khiếu hài hước thì cần bị tổn thương bởi những điều này. Và vì vậy dấu hiệu—hoặc ít nhất là một quyền lợi—của sức mạnh là việc không quá nghiêm trọng hoá bản thân. Thường thì những người tự tin, giống như những chú chim én, có vẻ như đang chọc ghẹo cả quá trình sáng tạo, giống như Hitchcock hay làm trong phim của ông, hay Bruegel với các bức tranh của mình—hay thậm chí cả Shakespeare, trong trường hợp này.

Thiết kế tốt có thể không cần hài hước, nhưng khó có thể tưởng tượng một cái gì bị gọi là thiếu hài hước mà lại là thiết kế tốt.

Thiết kế tốt thì khó. Nếu bạn quan sát những người đã làm những sản phẩm tuyệt vời, một thứ mà tất cả đều có vẻ có chung là họ đều làm việc cực kỳ chịu khó [8]. Nếu bạn không chịu khó, nhiều khá năng là bạn đang phí hoài thời gian.

Các vấn đề khó đòi hỏi các nỗ lực rất lớn. Trong toán học, các chứng minh khó yêu cầu các lời giải tài tình, và thường những lời giải đó đều khá thú vị. Tương tự với ngành kỹ thuật.

Khi bạn phải leo một quả núi, bạn ném đi tất cả những gì không cần thiết ra khỏi ba lô của mình. Và vì thế một kiến trúc sư phải thiết kế xây dựng trên một khu địa hình phức tạp, và với một nguồn vốn nhỏ, sẽ nhận ra rằng anh ta buộc phải sản xuất ra một thiết kế thanh nhã. Các sự thời trang và hoa hoè bị phủi sang một bên trước sự hiện diện của công việc đầy thách thức: ít nhất là tìm ra được giải pháp cho vấn đề.

Không phải mọi thứ khó khăn đều tốt. Có những cơn đau tốt và những cơn đau xấu. Bạn muốn cái kiểu đau từ việc bạn đi tập chạy, và không phải kiểu đau từ việc dẫm phải đinh. Một vấn đề khó có thể tốt cho một nhà thiết kế, nhưng một khách hàng hay thay đổi yêu cầu hoặc các vật liệu không tin cậy thì không tốt.

Trong mỹ thuật, các tranh vẽ người thường theo truyền thống được vinh danh nhiều nhất. Có một lí do gì đó cho truyền thống này, và không chỉ đơn giản rằng các tranh vẽ mặt người có khả năng kích thích não bộ của chúng ta theo những cách các tranh khác không làm được. Chúng ta giỏi trong việc nhìn nhận các khuôn mặt đến mức chúng ta bắt những người vẽ chúng phải chịu nhiều khó khăn để làm thoả mãn chúng ta. Nếu bạn vẽ một cái cây và bạn thay đổi góc của một cái cành cây khoảng năm độ, sẽ chẳng có ai biết. Khi bạn vẽ mắt của ai đó lệch khoảng năm độ, mọi người sẽ để ý.

Khi các nhà thiết kế Bauhaus bắt trước quy luật của Sullivan, “chức năng trước, hình thức sau” [9], ý họ là hình thức nên đi theo sau tính năng. Và nếu chức năng đủ khó thì hình thức sẽ bị buộc phải đi theo chức năng, vì ta không có thừa sức lực để phát sinh thêm các lỗi sai. Các động vật hoang dã thường đẹp vì chúng sống những cuộc đời khó khăn.

Thiết kế tốt thì trông dễ. Giống như những vận động viên thể thao lớn, các nhà thiết kế vĩ đại làm mọi thứ có vẻ dễ dàng. Phần lớn đây là ảo giác. Giọng văn đơn giản, đầy tính đàm thoại của các viết lách tốt xuất hiện vào lần viết lại thứ tám.

Trong khoa học và kỹ thuật, có những phát hiện vĩ đại mà có vẻ đơn giản đến mức bạn phải tự nhủ, đến mình cũng có thể nghĩ ra chúng. Người khám phá ra những điều này có quyền hỏi ngược lại, tại sao bạn không làm thế?

Một vài tranh vẽ mặt của Leonardo chỉ mất vài nét. Bạn nhìn vào chúng và nghĩ, tất cả cái mình cần làm là vẽ lại được tám đến mười nét ở đúng chỗ của chúng, và bạn đã vẽ xong bức chân dung tuyệt đẹp này. Ừ thì, hẳn vậy, nhưng bạn phải vẽ chúng ở chính xác những chỗ đó. Lỗi sai nhỏ nhất cũng sẽ làm cả bức tranh đổ vỡ.

Vẽ bằng một nét trên thực tế là phương tiện hình ảnh khó học nhất, vì chúng đòi hỏi sự cầu toàn. Nếu dùng các khái niệm toán học, điều này tương đương với một đáp án cụ thể [10]; các hoạ sỹ kém hơn giải quyết cùng vấn đề này bằng cách liên tiếp xấp xỉ. Một trong những lí do trẻ con dừng tập vẽ khoảng năm mười tuổi là vì chúng bắt đầu vẽ như người lớn, và một trong những thứ đầu tiên chúng thử là vẽ bằng một nét. Bụp! [11]

Trong phần lớn các ngành, sự hiện diện của cảm giác dễ dàng thường đi kèm với luyện tập. Có lẽ cái mà luyện tập làm là chuẩn bị tiềm thức của bạn để giải quyết một cách vô thức các công việc mà bình thường yêu cầu bạn phải suy nghĩ ý thức. Trong một số trường hợp, theo đúng nghĩa đen là bạn phải luyện tập cơ thể mình. Một nghệ sĩ dương cầm chuyên nghiệp có thể đánh các nốt nhạc nhanh hơn cả tốc độ não có thể gửi tín hiệu đến tay của anh ta. Tương tự, một hoạ sỹ, sau một thời gian, có thể đưa nhận thức hình ảnh chảy từ mắt xuống bàn tay mình một cách tự động không kém gì một người gõ chân theo nhịp nhạc.

Khi mọi người nói về trạng thái siêu tập trung [12], tôi nghĩ ý họ là mọi thứ đã được tuỷ sống [13] của họ kiểm soát. Tuỷ sống của bạn sẽ bớt ngại ngùng, và nó để dành các suy nghĩ có ý thức cho các vấn đề thực sự khó.

Thiết kế tốt sử dụng đối xứng. Tôi nghĩ rằng đối xứng có thể chỉ là một cách để đạt được sự đơn giản, nhưng nó đủ quan trọng để được nhắc đến riêng. Tạo hoá dùng đối xứng khá nhiều, đây là một dấu hiệu tốt.

Có hai loại đối xứng, sự lặp lại và sự đệ quy (quy nạp). Đệ quy được hiểu là sự lặp lại của các yếu tổ nhỏ hơn bên trong của một vật, ví dụ như các dạng mẫu của những cái gân của một chiếc lá.

Sự đối xứng đang không còn hợp thời trong một số ngành, để phản ứng lại sự thừa thãi đối xứng trong quá khứ ngành đó. Các kiến trúc sư bắt đầu xây các ngôi nhà đối xứng một cách có ý thức vào thời ký Victoria và đến tầm các năm 1920 sự bất đối xứng đã trở thành một tiên đề rõ ràng của kiến trúc hiện đại. Nhưng cả những ngôi nhà này cũng chỉ bất đối xứng ở những trục chính; còn có hàng trăm các đối xứng nhỏ trong thiết kế.

Trong viết văn bạn sẽ tìm thấy sự đối xứng ở mọi cấp độ, từ các cụm từ trong một câu cho đến cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết. Bạn sẽ tìm thấy những thứ tương tự trong âm nhạc và nghệ thuật. Các tranh ghép mosaic (và một vài tranh của Cézanne) thêm ấn tượng hình ảnh bằng cách xây dựng cả bức tranh bằng những hạt cơ bản giống nhau. Đối xứng thành phần [14] đem lại những bức tranh đáng nhớ nhất, đặc biệt là khi hai nửa tranh phản ứng với nhau, ví dụ như tranh Creation of Adam hoặc American Gothic.

Trong toán và kỹ thuật, đặc biệt phép đệ quy là một lợi thế lớn. Các chứng minh quy nạp thường ngắn một cách kì diệu. Trong lập trình, các bài toán có thể giải được bằng đệ quy thường có đệ quy là cách giải tốt nhất. Tháp Eiffel trông thật ấn tượng một phần vì đó là một giải pháp khá đệ quy, một toà tháp trên một toà tháp khác.

Sư nguy hiểm của đối xứng, và đặc biệt là sự lặp lại, là việc nó có thể bị dùng để thay thế cho suy nghĩ.

Thiết kế tốt thì mô phỏng thiên nhiên. Không phải vì có cái gì đó tốt trong bản chất của việc mô phỏng thiên nhiên, mà là vì thiên nhiên đã có rất nhiều thời gian để giải quyết vấn đề của nó. Sẽ là một dấu hiệu tốt khi giải pháp của bạn mô phỏng được thiên nhiên.

Sẽ không phải là ăn gian để bắt chước. Sẽ có ít người phủ nhận rằng một câu chuyện nên giống với quộc đời. Làm việc lấy xuất phát điểm từ cuộc sống là một công cụ quý giá, dù vai trò của nó thường hay bị hiểu lầm. Mục tiêu không phải là để lập kỉ lục hay được ghi nhận. Mục tiêu của việc vẽ lấy cảm hứng từ cuộc sống là việc đó cho tâm trí bạn cái gì đó để nhai tạm: khi mắt bạn đang nhìn cái gì đó, tay bạn sẽ làm những việc thú vị hơn.

Giả mạo tương lai cũng được tính trong ngành kỹ thuật. Có nhiều các thuyền đã lâu nay có cột sống và khung sườn như của một con thú. Ở một vài trường hợp chúng ta cần chờ đợi công nghệ tốt hơn: các nhà thiết kế máy bay đời đầu đã sai lầm khi thiết kế những chiếc máy bay trông giống chim, vì họ không có những vật liệu hoặc nguồn nhiên liệu đủ nhẹ (động cơ của anh em nhà Wright nặng 152 lbs. [15] và tạo ra mỗi 12 mã lực.) hoặc các bảng điều khiển đủ phức tạp cho những cỗ máy bay như chim, nhưng tôi có thể hình dung các máy bay trinh sát có cấu trúc giống chim trong khoảng năm mươi năm tới.

Hiện giờ chúng ta đã có đủ nguồn lực máy tính, chúng ta có thể bắt chước các phương thức của thiên nhiên cũng như kết quả của nó. Các thuật toán di truyền có thể cho chúng ta tạo ra những thứ quá phức tạp để thiết kế theo khái niệm thông thường.

Thiết kế tốt là tái thiết kế. Thật hiếm để làm mọi thứ đúng ngay lần đầu tiên. Các chuyên gia dự định trước là sẽ vứt bỏ một vài sáng chế ban đầu. Họ lên kế hoạch trước cho việc kế hoạch sẽ thay đổi.

Cần tự tin để vứt sang chế đi. Bạn phải có khả năng nghĩ rằng, còn nhiều thứ có thể sinh ra từ nó. Khi mọi người bắt đầu vẽ chẳng hạn, họ thường ngại vẽ lại một vài phần khôg đúng; họ cảm thấy họ đã đủ may mắn khi đi xa được như thế, và nếu họ cố gắng làm lại một cái gì đó, nó sẽ chỉ tệ hơn. Thay vì làm lại họ tự huyễn hoặc rằng bản vẽ không thực sự tệ đến thế–trên thực tế, có khi ý họ là nó phải trông như vậy.

Bất kì cái gì hình thành sự không thoả mãn thường là trong ranh giới nguy hiểm. Các tranh của Leonardo thường có khoảng năm hoặc sáu lần thử để nét vẽ chuẩn xác. Phần sau xe đặc biệt của chiếc Porsche 911 chỉ xuất hiện sau khi tái thiết kế lại một mẫu thử gượng gạo. Trong các bản thiết kế đầu tiên của toà nhà Guggenheim của kiến trúc sư Frank Lloyd Wright, nửa bên phải là một cấu trúc Ziggurat, ông chỉ xoay ngược nó để có hình dạng hiện tại.

Các lỗi lầm là một phần của tự nhiên. Thay vì coi chúng như những thảm hoạ, hãy làm chúng dễ nhận biết và dễ sửa. Leonardo gần như là người đãng sáng tác ra phương pháp vẽ phác, để giúp mỹ thuật mang sức nặng hơn về sự khám phá. Các phần mềm mã mở có ít lỗi hơn vì chúng ghi nhận khả năng có lỗi.

Sẽ rất tốt nếu có một thứ phương tiện giúp sự thay đổi xảy ra dễ dàng. Khi sơn dầu thay thế thuốc màu tempera vào thế kỷ mười lăm, nó giúp các hoạ sĩ xử lí các chủ đề khó hơn như cơ thể người bởi vì, không giống như tempera, sơn dàu có thể được pha loãng và được tô đè lên.

Thiết kế tốt có thể sao chép. Các thái độ với sự sao chép thường thay đổi theo chu kì một vòng. Một người mới học việc bắt chiếc vô ý thức; sau đó anh ta cố gắng một cách ý thức để trở nên độc đáo; cuối cùng anh ta quyết định là việc làm đúng quan trọng hơn là cố gắng độc đáo.

Sao chép vô ý thức gần như là một công thức cho thiết kế xấu. Nếu bạn không biết các ý tưởng của mình đến từ đâu, có lẽ bạn đang bắt chước một kẻ bắt chước khác. Raphael quá là phổ biến vào giữa thế kỷ mười chín để đến mức mà bất kì ai cố gắng vẽ đều đang bắt chước ông ta, thường là qua vài người bắt chước trung gian khác. Chính vì chuyện này, chứ không phải vì các tác phẩm của Raphael, làm bức xúc nhóm Tiền-Raphael [16].

Những người giàu tham vọng không thoả mãn với việc bắt chước. Giai đoạn thứ hai của việc nuôi lớn khiếu thẩm mỹ là một cố gắng ý thức để tạo giá trị mới.

Tôi nghĩ nhưng bậc thầy giỏi nhất vượt qua giai đoạn này để đến một trạng thái quên mình. Họ chỉ muốn có câu trả lời đúng đắn, và nếu một phần của câu trả lời đúng đã được khám phá ra bởi ai đó khác, thì chẳng có lí gì mà không dùng luôn nó. Họ đủ tự tin để lấy từ bất kì ai mà không cảm thấy tầm nhìn của họ bị mất đi trong quá trình này.

Thiết kế tốt thường kỳ lạ. Một vài sáng tạo tuyệt vời nhất thường có tính chất quái dị: Công thức Euler, bức Thợ Săn trong Tuyết của Bruegel, máy bay SR-17, và ngôn ngữ lập trình LISP. Chúng không chỉ đẹp, mà đẹp một cách lạ kỳ.

Tôi không chắc vì sao. Có thể chỉ là sự ngu ngốc của chính tôi. Một cái mở nắp chắc phải là một thứ rất kì diệu đối với một chú chó. Có thể nếu tôi đủ thông minh thì việc e^(i*pi)=-1 sẽ là thứ hiển nhiên nhất trên đời. Dẫu sao thì nó cũng là một sự thật.

Phần lớn những thứ tôi đã nhắc đến đều có thể được hình thành, nhưng tôi không nghĩ ta có thể tự hình thành sự quái dị. Điều tốt nhất bạn có thể làm là không đè bẹp nó khi nó bắt đầu xuất hiện. Einstein không hề cố gắng làm cho thuyết tương đối kỳ lạ. Ông ta cố gắng làm cho nó đúng, và sự đúng đắn ấy cuối cùng trông khá kỳ lạ.

Ở một trường mỹ thuật tôi từng đi học, các sinh viên muốn nhất là hình thành phong cách riêng. Nhưng nếu bạn cố gắng tạo ra những thứ tốt, cuối cùng thì bạn sẽ tạo ra chúng theo một cách rất riêng, giống như cách mỗi người bước chân cũng rất khác nhau. Michaelangelo không cố gắng vẽ giống Michaelangelo. Ông ta chỉ cố gắng vẽ đẹp, và vì thế nên ông không thể cản mình vẽ giống Michaelangelo.

Phong cách đáng có duy nhất là phong cách mà bạn không thể chối bỏ được. Và điều này đặc biệt đúng với sự kỳ lạ. Không có một đường tắt nào để đến với nó. Cái thứ Hành lang Tây Bắc mà nhóm trường phái kiểu cách, nhóm trường phái lãng mạn, và hai thế hệ học sinh cấp ba ở Mỹ bỏ công tìm kiếm dường như không tồn tại. Cách duy nhất để đi đến cái đích này dường như chỉ có đi hết con đường và đi ra ở đầu bên kia.

Thiết kế tốt thường xuất hiện theo từng đợt. Những người sống ở Florence vào thế kỉ mười lăm bao gồm Brunelleschi, Ghiberti, Donatello, Masaccio, Filippo Lippi, Fra Angelico, Verrocchio, Botticelli, Leonardo, và Michaelangelo. Milan thời bấy giờ to ngang ngửa Florence. Bạn có thể kể tên bao nhiêu hoạ sĩ đến từ Milan vào thế kỉ mười lăm?

Có gì đó đã xảy ra ở Florence vào thế kỷ mười lăm. Và nó không phải là vấn đề thừa hưởng gen, vì nó không còn xảy ra nữa. Bạn phải giả định rằng bất kì khă năng bẩm sinh nào Leonardo và Michaelangelo có, sẽ có những người sinh ra ở Milan với những tài năng tương tụ. Chuyện gì đã xảy ra với Leonardo của Milan?

Có khoảng một ngàn lần số người sống ở Hoa Kỳ so với số người sống ở Florence của thế kỷ mười lăm. Một ngàn Leonardo và một ngàn Michaelangelo xống trong xã hội của chúng ta. Nếu ADN thực sự đóng vai trò quan trọng, nhẽ ra chúng ta phải bị king ngạc bởi nhan nhản các tác phẩm nghệ thuật ở mọi nơi. Nhưng sự thật không phải vậy, và lí do là vì để sinh ra một Leonardo bạn cần nhiều hơn khả năng bẩm sinh của anh ta. Bạn cần Florence vào năm 1450.

Chẳng có gì mạnh hơn một cộng đồng những người có nhiều tài năng và cùng nhau làm việc trên những vấn đề liên quan tới nhau. Gen không ảnh hưởng nhiều lắm so với yếu tố này: có gen của Leonardo không đủ đề bù cho việc được sinh ra ở gần Milan thay vì Florence. Hôm nay chúng ta di chuyển nhiều hơn, nhưng các sáng tạo vĩ đại thường chỉ đến từ một vài chỗ nóng đặc biệt: nhà Bauhaus, Dự Án Manhattan, thời báo New Yorker, Skunk Works của hãng Martin Lockheed, Công ty nghiên cứu PARC thuộc Xerox.

Ở bất kỳ một thời điểm nào sẽ có một vài chủ đề nổi cộm và một vài nhóm làm những việc ấn tượng trong những chủ đề này, và bạn sẽ gần như không thể làm được những việc tương tự nếu bạn ở quá xa một trong những trung tâm này. Bạn có thể đưa đẩy các xu hướng này ở một mức độ nào đó, nhưng bạn không thể cắt mình khỏi chúng. (Có thể chỉ bạn mới làm được điều này, nhưng phiên bản Leonardo ở Milan không thể.)

Thiết kế tốt thường liều lĩnh. Ở bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào, mọi người đều đã từng tin vào những thứ siêu ngớ ngẩn, và niềm tin của họ mạnh mẽ đến mức bạn sẽ có nguy cơ bị tẩy chay hoặc bị bạo hành nếu đưa ra những thứ đi ngược với niềm tin này.

Nếu thế hệ của chúng ta mà không còn như vậy thì sẽ thật tuyệt vời. Với những gì tôi biết, điều này không đúng.

Vấn đề này ảnh hưởng không chỉ mọi thời đại, mà còn ở một số mức độ mọi ngành nghề. Phần lớn mỹ thuật thời Renaissance được coi là trần tục một cách đáng kinh ngạc: theo lời Vasari, Botticelli từng hối hận và từ bỏ hội hoạ, và Fra Bartolommeo và Lorenzo di Credi thậm chí còn đốt một vài tác phẩm của họ. Thuyết tương đối của Einstein xúc phạm rất nhiều nhà vật lý cùng thời, và đã không được chấp nhận hoàn toàn đến hàng thập kỷ–đặc biệt ở Pháp, phải đến những năm 1950.

Lỗi thử nghiệm hôm nay là lý thuyết mới của ngày mai. Nếu bạn muốn khám phá ra những thứ vĩ đại mới thì thay vì nhắm mắt với nhưng nơi mà sự thật và lẽ phải thông thường không giao nhau, hãy đặc biệt chú ý đến chúng.

Một vấn đề thực tế, tôi nghĩ dễ tưởng nhìn thấy cái xấu hơn là hình dung cái đẹp. Phần lớn những người đã làm ra những thứ đẹp đẽ thường làm được việc này nhờ chữa một cái gì đó họ cho là xấu xí. Những tuyệt tác thường được hoàn thành vì có ai đó nhìn thấy một cái gì đó và nghĩ Mình có thể làm tốt hơn thế này. Giotto nhìn thấy những hình mẹ Mary theo phong cách Byzantine truyền thống, được vẽ theo một công thức mà đã thoả mãn mọi người hàng trăm năm nhưng với ông thì trông chúng khô cứng và không tự nhiên. Copernicus phiền não vì một “phát minh” mà tất cả những người cùng thời của ông có thể chấp nhận đến mức mà ông cảm giác phải có một lời giải tốt hơn.

Sự không khoan nhượng với cái xấu thì không đủ. Bạn phải hiểu một ngành đủ sâu trước khi bạn hình thành một cái mũi đánh hơi tốt những gì cần sửa đổi. Bạn phải làm bài tập về nhà của riêng mình. Nhưng khi bạn dần trở thành một chuyên gia trong ngành của mình, bạn sẽ bắt đầu nghe thấy những giọng nói nho nhỏ trong đầu mình, Đúng là ăn gian! Phải có một cách gì đó tốt hơn. Đừng kệ những giọng nói này. Nuôi dưỡng chúng. Công thức cho việc làm vĩ đại là: một cái khiếu thẩm mỹ cực kì rõ ràng, cộng thêm khả năng thoả mãn cái khiếu thẩm mỹ ấy.

Ghi Chú

Sullivan thực ra đã nói là “form luôn luôn đi theo function,” nhưng tôi nghĩ sự trích dẫn sai thường thấy thì sát với ý của các kiến trúc sư hiện đại hơn.

Stephen G. Brush, “Vì sao Thuyết Tương Đối được Chấp Nhận?” Báo Vật Lý trong Quan Điểm 1 (1999) 184-214

***

Ghi Chú từ người dịch:

[0] Taste: mình băn khoăn rất nhiều khi chọn từ thay thế cho taste, đây là từ cuối cùng được dịch ra. Dường như không có gì trong tiếng Việt thay thế được sự tối giản và móc nối với các lớp nghĩa khác của cùng từ Taste này. Taste là nếm thử, nếm trải, nhưng cũng là sở thích và thị hiếu- và khi đọc từ taste thì mình luôn luôn ám ảnh hơn về cảm giác nghĩa này; dường như thực sự có một cái ý nghĩa hay khái niệm gì đó mà nằm tách biệt hẳn khỏi ngôn ngữ mô tả chúng. Mình chọn “khiếu thẩm mỹ” qua rất nhiều cân nhắc, nhưng cụm này thì tránh gây hiểu lầm nhất.

[1] nhắc nhở rằng taste vẫn là một từ ngắn gọn

[2] đây có lẽ là sự lệch lạc về màu nghĩa đầu tiên cho từ taste và cụm “khiếu thẩm mỹ”

[3] vẫn là taste

[4] swooshes & curlicues

[5] substance

[6] Dịch scripture là lý thuyết, vì tác giả sử dụng liên hệ tôn giáo: một lý thuyết đã quá vững vàng và được chấp nhận gần như Kinh Thánh.

[7] practical joke

[8] work hard dịch là lviec chăm chỉ dường như không sát nghĩa cho lắm

[9] form follows function, dùng cấu trúc câu này để làm rõ tính tối giản của câu gốc, để so sánh với ý sau, là form should follow function

[10] closed-form solution, chứ không phải các lời giải mang tính ước lượng. Hãy nghĩ việc giải một phương trình vi phân tuyến tính bậc nhất bằng cách tìm thừa số tích phân và tìm ra phương trình đích xác và thay số, so với sử dụng Phương Pháp Euler để ra một xấp xỉ số gần sát chẳng hạn.

[11] Smack!

[12] being in the zone

[13] Hiểu nôm na: Mọi thứ được tự động hoá bởi các dây thần kinh, không cần nghĩ nhiều để làm được việc.

[14] compositional symmetry

[15] ~ 69 kg

[16] Pre-Raphaelites


Leave a comment

Dịch: Letter to My Younger Self- Ray Allen

Article from here. Since Basketball is almost the only sports I watch, and Ray Allen has been kind of the role model to follow. Of all the letters to self in this Players’ Tribune series, I like this one the best.

Basketball has many interesting personalities and lessons. The translation was actually not difficult, just fun and quick to do. I realized the translation task is more for myself – as I get into a more intimate level with the writer.

___________________________________________________

Thư gửi cho bản thân hồi nhỏ –  Ray Allen

Gửi Ray của tuổi 13,

Khi cậu xuống xe buýt ngày mai, cậu sẽ ở một thế giới hoàn toàn mới. Điều này không phải là mới. Mỗi lần cha cậu đóng quân ở một căn cứ Air Force mới, cậu lại phải chào tạm biệt tất cả bạn bè của mình và bắt đầu một cuộc sống khác. Đây là chu kỳ sau mỗi 3 năm. Trường mới, văn hoá mới, những khuôn mặt mới.

Bắc California. Rồi Đức. Rồi Oklahoma. Sau đó là Anh Quốc. Rồi lại Nam California.

Và bây giờ, Dalzell, Nam Carolina.

Cậu quen với việc là đứa nhóc không ai biết đến. Phần lớn sự tồn tại của cậu đã từng là tìm cách để kết bạn mới, thể hiện cho mọi người rằng cậu là người tốt và cậu không có ý xấu. Cậu quen với việc là người ngoài cuộc.

Cậu đã trở nên khá giỏi ở mảng này.

Lần này thì hơi khác. Bây giờ là giữa năm học, khi tất cả mọi người đã biết hết nhau. Cậu đang ở một tuổi quan trọng, lúc mà đám trẻ cứ…

Đám trẻ cứ xấu tính với nhau.

Cậu đã lớn lên trong một gia đình quân nhân nề nếp cả đời mình. Cho đến giờ, bạn bè của cậu đều là từ các gia đình quân nhân. Cậu đi trong khu nhà mình ở với thẻ căn cước trên cổ, như xích chó, để đề phòng có vài quân nhân không biết cậu. Cậu bỏ những năm học trung học đầu đời ở nước Anh. Vì thế nên có thể cậu còn không nhận ra, nhưng với nhiều người, cậu ăn nói rất lễ độ.

Khi cậu leo lên cái xe buýt đến trường ở Nam Carolina ngày mai và mở miệng, đám trẻ con sẽ nhìn cậu như người ngoài hành tinh.

“Mày ăn nói như một thằng da trắng,” họ sẽ nói.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.15.32 AM

Cậu nhìn quanh và nhìn thấy các nhóm trẻ đã có đôi sẵn, và cậu không có chỗ ngồi.

Cậu tự nhủ, mình không hiểu. Giờ mình phải là ai?

 Tôi sẽ 100% thật lòng với cậu. Tôi ước gì mình có thể nói với cậu rằng mọi thứ sẽ đơn giản hơn, và rồi cậu sẽ quen với mọi người, và mọi thứ sẽ ổn. Nhưng cậu sẽ không chơi được với đám da trắng, hay đám trẻ da đen, hay hội mọt sách… và thậm chí cả đám chơi thể thao.

Cậu sẽ là kẻ thù của rất nhiều người, đơn giản chỉ vì cậu không đến từ quanh đây.

Đây sẽ là điều khó khăn và cũng là điều tuyệt vời nhất sẽ xảy ra với cậu.

Cái tôi muốn cậu làm là: Đến sân bóng rổ. Ở lại sân bóng rổ. Cậu có thể xây dựng toàn bộ sự tồn tại của mình ở đó.

Thế giới rộng lớn hơn Dalzell, Nam Carolina rất nhiều. Nếu cậu theo được kế hoạch này cậu sẽ thấy. Hãy nhớ lại nhưng buổi sáng Thứ Bẩy Chủ Nhật cậu nằm trên giường và nghe tiếng ba nổ máy xe van ở ngoài cửa.

Cậu biết âm thanh đó. Nó không hay ho gì.

Tất cả những thứ cậu muốn làm là đi ngủ tiếp, nhưng hãy cầm đôi giầy của mình và chạy xuống cầu thang, vì ba cậu sẽ bỏ rơi cậu. Cậu có chính xác hai phút trước khi xe bắt đầu nổ máy và ba cậu sẽ đi ra đường lớn. Ba cậu có nghĩa vụ quân sự, và nếu cậu không đến sân bóng rổ trong căn cứ Air Force vào đúng 9 giờ sáng để ghi tên điểm danh, cậu sẽ phải đợi cả ngày để được vào trong.

Cậu sẽ học được rất nhiều thứ từ sân bóng rổ này. Là một đứa nhóc 13 tuổi chơi với người lớn, cậu sẽ học cách đánh phản công nhanh [1] như một sự cần thiết tối thiểu. Cậu sẽ học cánh chơi tốc độ cao mà tất cả các anh phi công sẽ bắt đầu gọi cậu là Showtime [2] mỗi khi cậu đến.

Giữa các trận bóng rổ, khi cậu đang ngồi ở rìa sân, tôi muốn cậu lắng nghe thật kĩ tất cả những câu chuyện được kể bởi những quân nhân ở đây.

Cậu sẽ nghe thấy thật nhiều, “Ông ạ, nhẽ ra tôi đã có thể…” trên những sân bóng này.

Ông ạ, tôi ước gì mình có thể đi ngược thời gian.

 Nhẽ ra tôi có thể vào Phân Nhóm I. [3]

 Rượu bia đã huỷ hoại đời tôi

 Ông ạ, nhẽ ra tôi đã có thể..

 Ông ạ, nhẽ ra tôi đã phải…

 Anh ước gì mình có thể quay lại, nhóc à…

 Đừng bao giờ để mình rơi vào vị trí mong ước được nhảy lên một cỗ máy thời gian, Ray à. Cậu cần tập trung, vì mọi thứ sẽ chỉ trở nên phức tạp hơn khi cậu thành công hơn trên sân bóng.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.15.47 AM

Khi cậu bắt đầu được các trường đại học quan tâm tới, một vài đồng đội của cậu sẽ bắt đầu nói những thứ như là, “Đại học Connecticut? Mày sẽ ngồi dự bị cho đội đó cả bốn năm.”

Chỉ vì cậu không uống rượu, họ sẽ nói, “Mày sẽ nghiện rượu khi nào lên đại học. Mày sẽ không đủ sẵn sang. Tất cả những gì họ làm ở đó là uống.”

Rất nhiều người không muốn cậu thành công. Đừng đánh nhau với chúng nó. Tin tôi đi, đánh nhau sẽ chẳng đạt được cái gì cả.

Thay vì vậy, hay nhớ thật kĩ ai nói những điều đó.

Nhớ cách họ nói chúng.

Nhớ mặt họ.

Giữ những giọng nói đó trong đầu mình và dùng nó làm nhiên liệu mỗi sang cậu thức dậy.

Và những giọng nói tâng bốc cậu? Tránh xa chúng ra. Khi cậu bắt đầu được cả nước chú ý đến ở trường phổ thong, cậu sẽ được nghe những thứ đại loại như là, “Dáng nhảy ném của Ray là của Trời cho.”

Nghe tôi: Chúa không quan tâm cậu có nhảy ném vào trái tiếp theo hay không.

Chúa sẽ cho cậu rất nhiều thứ trong cuộc đời, nhưng ông ấy sẽ không cho cậu cú nhảy ném của cậu. Chỉ có luyện tập hết sức mới làm được việc đó.

Đừng ngây thơ nghĩ rằng cậu đã sẵn sàng cho thi đấu ở cấp đại học.

Ở trường phổ thông, cậu có thể đã nghĩ là mình hiểu cậu cần cái gì để trở thành một cầu thủ bóng rổ vĩ đại, những thực sự cậu không hiểu. Khi vào đại học Connecticut, huấn luyện viên sẽ cho cậu thấy luyện tập hết sức thực sự phải như thế nào.

Tên người huấn luyện viên đó là Jim Calhoun. Đừng để rơi vào sổ đen của ông ta.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.02 AM.png

Khi cậu đi vào phòng thể chất cho buổi tập đầu tiên, hãy chuẩn bị tinh thần cho một chuyến đi đến địa ngục. Cậu sẽ cực kì phẩn khởi mặc đồng phục thi đầu của đội Huskies của trường và bắt đầu tập ném. Nhưng rồi Calhoun sẽ vặn ngược kịch bản.

“Sinh viên năm nhất!” Ông ấy sẽ nói. “Các cậu nghĩ mình xứng đáng mặc đồng phục này ư? Các cậu chưa xứng đáng với đặc quyền này. Không phải bây giờ.”

Thế rồi các trợ lí huấn luyện viên sẽ bắt đầu phát những bộ quần áo xám xịt cho tất cả các sinh viên năm nhất.

“Tôi muốn thấy mồ hôi đổ,” huấn luyện viên sẽ nói.

Cho đến lúc này, cậu sẽ nghĩ là bóng rổ chỉ là ra sân và nhảy ném và thể hiện kỹ thuật của mình.

Khi cậu trải qua buổi tập đầu tiên của huấn luyện viên Calhoun, cậu sẽ nhận ra, Ồ, môn thể thao này thật khốn kiếp. [4]

 Cậu sẽ trải qua buổi tập khủng khiếp nhất cuộc đời mình. Cậu sẽ thở hổn hển tìm không khí, cả người cúi gập. Nhưng vấn đề ở đây là phòng tập ở khu Storrs được lắp điều hoà nhiệt độ. Cơ thể cậu đã quen với những phòng tập nóng như lò thiêu ở Nam Carolina, ở đó thì không có điều hoà nhiệt độ.

Cuối buổi tập, Calhoun sẽ bắt mọi người xếp hàng và đi qua cả hàng, nhìn mặt từng người.

Khi ông ta đi đến chỗ cậu, ông sẽ nhìn xuống áo cậu, và sẽ chỉ có một giọt mồ hôi chảy xuống từ cổ họng cậu.

Ông sẽ nhìn cậu. Rồi ông nhìn xuống giọt mồ hôi. Rồi ông lại nhìn cậu.

“Chỉ thế thôi sao? Có lẽ chúng tôi chưa bắt cậu tập đủ, Allen à.”

Buổi tập sau đó sẽ còn khủng khiếp hơn.

Người đàn ông này sẽ dập cậu gần nát bét, nhưng ông ta sẽ rèn cậu thành một vận động viên và một con người tốt đẹp hơn nhiều. Đây sẽ là nhập môn với cậu về việc người ta thực sự cần gì để trở nên vĩ đại.

Một vài ngày sau, cậu sẽ có một trong những giây phút đáng nhớ nhất đời mình. Cậu sẽ ngủ dậy lúc 5h30 sáng và đến phòng tập thể hình để hoàn thành bài tập hang ngày, rồi cậu sẽ đi về phòng ngủ và tắm trước khi vào lớp.

Cậu sẽ mặc áo sơ mi và đeo cà-vạt, và xách ba lô đi xuyên qua khuôn viên trường để vào lớp học đầu tiên của ngày.

Vẫn còn sớm, nên xung quanh khá là yên tĩnh. Những chiếc lá vàng vỡ vụn ra dưới chân cậu. Người cậu đau nhức, nhưng quần áo cậu chỉn chu. Cậu vừa hoàn thành buổi tập. Cậu đã sẵn sàng. Cậu có mục đích trong đời.

Tôi không biết có gì thực sự đặc biệt ở cái khoảnh khắc này, nhưng khi cậu đang đi, cậu sẽ nghĩ, Wow. Mình đã là một sinh viên đại học. Dù gì xảy ra ở phía cuối con đường, mình sẽ làm gia đình tự hào.

Khi cậu vào lớp học nói trước đám đông và ngồi xuống, sẽ có một cô gái quay xuống và hỏi, “Này, sao ấy ăn mặc điệu đà vậy?”

Cậu sẽ nói, “Vì tớ có thể.”

Lúc đó, cậu sẽ cảm thấy như mình vừa chinh phục thế giới.

Tôi có thể kết thúc bức thư này ở đây, và cậu có thể sẽ vẫn tự hào về những gì cậu sẽ đạt được trong cuộc sống. Nhưng cậu vẫn còn 18 năm trong giải NBA phía trước.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.22 AM.png

Làm thế nào để tôi tóm tắt gần hai thập kỉ trong NBA? Cậu thật sự cần biết cái gì? Có cái gì thực sự quan trọng?

Cậu sẽ được thi đấu với những thần tượng của mình: Michael Jordan và Clyde Drexler.

Cậu sẽ được thi đấu cạnh những cầu thủ xuất sắc nhất của lịch sử bóng rổ [5]: Kevin Garnett, Paul Pierce, Lebron James, Dwyane Wade.

Đôi khi cậu sẽ sơ hãi.

Đôi khi cậu sẽ nghĩ cậu không xứng tầm.

Nhưng cậu sẽ đến phòng tập hàng ngày, bền bỉ chuẩn bị.

Cậu sẽ ném hơn 26000 phát ném trong cả sự nghiệp của mình. Gần như 6 trong 10 trái ấy là trượt. Tôi đã nói với cậu rồi, môn thể thao này là một trò chơi khốn kiếp.

Nhưng chớ lo. Một người đàn ông thành đạt được sinh ra từ 1000 thất bại. Hoặc trong trường hợp của cậu, 14000 phát ném trượt.

Cậu sẽ vô địch giải cùng đội ở Boston.

Cậu sẽ vô địch một lần nữa với Miami.

Những tính cách trong hai đội này sẽ khác nhau, nhưng cả hai sẽ có cùng một điểm chung: thói quen.

Những thói quen nhàm chán cũ rích.

Tôi biết cậu muốn tôi nói cho cậu một bí mật lớn nào đó để thành công trong NBA.

Bí mật là chẳng có bí mật nào cả.

Chỉ có những thói quen nhàm chán cũ rích.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.36 AM.png

Trong mỗi buổi họp đội trong từng phòng thay đồ cậu được tham gia, tất cả mọi người sẽ nói tất cả những điều đúng đắn. Tất cả mọi người đều nói họ sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì cần thiết để vô địch. Nhưng môn thể thao này không phải là phim. Nó không phải là vấn đề làm cậu thủ xuất sắc ở hiệp cuối. Nó không phải là về chuyện nói gì đúng. Nó là việc luyện tập hằng ngày, khi không ai quan tâm đến mình.

Kevin Garnet, Paul Pierce, Lebron James, Dwyane Wade. Những người đàn ông sẽ cùng cậu giành vô địch sẽ là những người rất khác nhau. Cái làm họ trở thành những quán quân là những thói quen nhàm chán mà không ai nhìn thấy. Họ cạnh tranh xem ai là người đầu tiên tới phòng tập và người cuối cùng ra về.

Nhưng người đồng nghiệp của cậu mà nghĩ đây là một sự sáo rỗng, hoặc nó không đúng với họ vì họ có tài năng của Chúa ban cho, sẽ thi đấu cả sự nghiệp mà không bao giờ vô địch.

Nhưng tôi muốn cậu hiểu một điều sâu sắc hơn. Những lần vô địch không phải là cái quan trọng.

Đúng, cậu sẽ có cảm giác được công nhận và được minh oan khi nhấc cúp vô địch lên trên đỉnh đầu, và nhớ về tất cả những người đã từng nói cậu sẽ chẳng làm nên trò trống gì.

Bốn năm ngồi ghế dự bị.

 Nghiện rượu.

 Thằng da trắng.

 Nhưng nếu tôi thật thà với cậu, cái cậu thực sự nhận ra sau khi đạt được danh hiệu vô địch đầu tiên là sự hồi hộp nói trên chỉ là phù du. Cảm giác được minh oan cũng phù du. Nếu cậu chỉ chạy theo cảm giác đó, cậu sẽ kết thúc là một người siêu trầm cảm.

Thi đấu giành giải vô địch gần như chỉ là phụ so với cảm giác được thức dậy buổi sang và bắt đầu làm việc. Giải vô địch giống như khoảnh khắc cậu ngồi ở Đại Học Connecticut và mặc áo sơ-mi và đeo cà-vạt. Đó chỉ là những cái đỉnh.

Con đường mòn đến những khoảnh khắc ấy, giống như chuyến đi bộ xuyên khuôn viên trường vào buổi sang mùa thu im ắng ở Connecticut ấy, đó mới là nơi cậu tìm thấy niềm vui.

Tôi thực sự nghĩ thế này từ tận đáy lòng: Cuộc sống là về những chuyến đi, không phải là cái đích đến. Và chuyến đi này sẽ thay đổi con người cậu.

Để tôi kể cho cậu một câu chuyện cuối cùng mà có thể giúp cậu hiểu ý tôi.

Sáng sớm ngày 21 tháng Sáu năm 2013. Cậu 38 tuổi, và vừa mới vài tiếng trước đội Miami Heat của cậu vừa thắng Trận số 7 của Chung Kết giải NBA.

Cậu vừa vô địch NBA lần thứ hai trong đời.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.47 AM.png

Cậu nằm xuống giường vào khoảng năm giờ sáng, nhưng cậu không thể ngủ. Cuối cùng, vào lúc bảy giờ, cậu từ bỏ ý định ngủ và lọ mọ xuống tầng dưới. Tất cả bạn bè và gia đình cậu vừa đến nhà cậu để ăn mừng—tất cả đang ngủ la liệt trên các ghế sofa. Cậu rón rén đi quanh họ để vào phòng bếp và làm bữa sáng. Mặt trời đang lên, ngôi nhà im ắng. Cậu vừa đạt được cái cậu muốn. Nhưng cậu vẫn cảm thấy bồn chồn.

Và vì sao cậu cảm thấy như vậy? Chẳng phải đây là cái cậu đã chuẩn bị đầy quyết tâm và chăm chỉ?

Vào khoảng 7:30, cậu leo lên ô-tô và bắt đầu lái ra đường.

Cậu tấp xe vào trước một văn phòng màu trắng. Họ vừa mở cửa.

Khi cậu vào cửa, nhân viên lễ tân nhìn cậu và hỏi, “Ray, Anh… làm gì ở đây thế này?”

“Tôi không ngủ được.”

“Nhưng… anh vừa vô địch.”

“Ừ, nhưng tôi chỉ muốn ra khỏi nhà.”

“Nhưng mà… mới có tám giờ sáng. Và anh vừa vô địch.

“Ờm, dù sao tôi vẫn cần phải làm gì với cái răng này. Anh ấy đến chưa?”

Nha sĩ của cậu đi ra khỏi phòng làm việc của mình.

“Ray? Anh đang… cái gì thế này?”

“Không ngủ được.”

Thành công trông sẽ như thế này. Cậu là cái thể loại cầu thủ đến thăm nha sĩ của mình vào buổi sáng ngay sau hôm vô địch NBA.

Tôi hiểu, Ray à.

Tôi hiểu mà.

Nhưng để đạt được những ước mơ của mình, cậu sẽ trở thành một kiểu người khác. Cậu sẽ trở nên ám ảnh về thói quen của mình. Điều này sẽ là một sự trả giả đắt với một số bạn bè và người thân của cậu.

Phần lớn các đêm, cậu sẽ không ra ngoài. Bạn bè sẽ hỏi cậu tại sao. Cậu cũng sẽ không bao giờ uống đồ có cồn. Mọi người sẽ nhìn cậu với ảnh mắt kì lạ. Khi cậu vào thi đấu trong giải NBA, không phải lúc nào cậu cũng chơi bài với các đồng đội của mình. Vài người sẽ giả định cậu đang không là một người đồng đội tốt. Thậm chí cậu còn phải trì hoàn việc gia đình để hoàn thành công việc của mình.

Phần lớn thời gian, cậu sẽ cô đơn.

Sự cô đơn sẽ không làm cậu được yêu thích. Có những người sẽ không bao giờ chịu hiểu. Liệu có đáng không?

Chỉ có cậu mới trả lời được.

Bây giờ mình phải là ai?

 Ngày mai khi cậu leo lên xe buýt đến trường ở Nam Carolina, cậu sẽ phải chọn.

Mỗi ngày cho đến hết đời, cậu sẽ phải chọn.

Cậu có muốn được thuộc về nhóm nào, hay cậu muốn bắt đầu cuộc theo đuổi đầy cô đơn của sự vĩ đại?

Tôi viết cho cậu hôm nay với tư cách một người đàn ông 41 tuổi sắp nghỉ thi đấu bóng rổ. Tôi viết cho cậu với tư cách một người đàn ông hoàn toàn bình an với bản thân.

Thứ địa ngục cậu trải qua khi xuống khỏi xe buýt sẽ chỉ là tạm thời. Bóng rổ sẽ đem cậu đi xa khỏi cái sân trường ấy. Cậu sẽ trở thành nhiều hơn là một cầu thủ bóng rổ. Cậu sẽ được đóng phim. Cậu sẽ đi du lịch thế giới. Cậu sẽ thành một người chồng, và một người cha của năm đứa trẻ tuyệt vời.

Bây giờ, câu hỏi quan trọng nhất cuộc đời cậu không phải, “Mình nên trở thành cái gì?”, hay, “Mình cần làm gì để vô địch một lần nữa?”

Câu hỏi đó là, “Bố ơi, bố đoán xem hôm nay chuyện gì xảy ra trong lớp toán?”

Đó là phần thưởng chờ đợi cậu ở cuối con đường.

Đến sân bóng rổ. Ở lại sân bóng rổ.

Tập luyện hăng say đi, cậu trẻ.

Phần lớn mọi người sẽ không bao giờ được thực sự biết đến cậu. Nhưng họ sẽ biết đến công việc của cậu.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.17.05 AM.png

[1] “play transition”

[2] Không biết dịch thế nào cho nó hay, mình quyết định để nguyên văn. Showtime = Đến Giờ Diễn

[3] Division I Sports https://en.wikipedia.org/wiki/NCAA_Division_I Cấp độ cao nhất có thể của thể thao đại học Mỹ, và thường một phần không nhỏ các cầu thủ trong phân nhóm này trở thành vận động viên chuyên nghiệp.

[4] “Oh, this game is a sonofabitch”

[5] “Hall of Famers”


Leave a comment

Dịch: On Creativity – Isaac Asimov

Leisurely translation, from Asimov’s essay, How Do People Get New Ideas, found on MIT tech review. Naturally this has been a point of interest for me, as to how people innovate.

I remember reading some great stuff on creativity from Doug Hofstadter’s Metamagical Themas, but sadly I no longer have the book with me to do a proper translation. This one has been something popularized to the startup folks. More for-fun translations will follow this one.

____________________________________________________

Isaac Asimov Hỏi: “Làm thế nào để có ý tưởng mới?”

Note từ Arthur Obermayer, bạn của tác giả:

Năm 1959, tôi làm nghiên cứu ở doanh nghiệp Allied Research Associates ở Boston. Công ty này là một phát sinh từ trường MIT mà ban đầu tập trung vào các ảnh hưởng của vũ khí hạt nhân lên các cấu trúc máy bay. Công ty nhận một dự án với tên tắt là GLIPAR [1] (Chương Trình Nhận Dạng Đường Dẫn cho các Nghiên Cứu Chống Tên Lửa) từ Cơ Quan Các Dự Án Nghiên Cứu Nâng Cao [2] để hình thành những cách tiếp cận sang tạo nhất có thể cho một hệ thống phòng thủ tên lửa ballistic. Chính phủ (Mỹ) nhận ra rằng không có một lượng ngân sách nào được bỏ vào phát triển và cải tiến công nghệ hiện tại là đủ. Họ muốn chúng tôi và những nhà thầu khác phải suy nghĩ đột phá hơn. [3]

Khi tôi mới tham gia vào dự án, tôi đã đề xuất Isaac Asimov, một người bạn tốt của tôi, tham gia cùng. Anh ấy bày tỏ sự sẵn sàng và đã đến tham dự một vài buổi. Sau đó anh quyết định không tham gia nữa, vì anh không muốn có tiếp cận đến bất kỳ thông tin mật cơ sở nào; nó sẽ làm giới hạn quyền tự do ngôn luận của anh. Tuy nhiên trước khi bỏ đi anh đã viết bài luận này về sự sáng tạo, đóng góp duy nhất của anh về cách tiến hành các buổi họp. Tiểu luận này không hề được xuất bản hay sử dụng ngoài nhóm của chúng tôi. Khi tôi tìm thấy lại nó trong lúc dọn dẹp các văn bản cũ, tôi nhận ra rằng nội dung của bài luận này vẫn còn thích hợp với ngày hôm nay như hồi anh viết nó. Bài luận mô tả không chỉ quá trình sang tạo và bản chất của những nhà sang tạo, mà cả kiểu môi trường khuyến khích sự sáng tạo.

***

Về Sự Sáng Tạo 

Có nhiều khả năng là quá trình sáng tạo, cho dù là gì đi chăng nữa, là bất biến trong tất cả các nhánh và các biến thể của sự sáng tạo, để đảm bảo rằng sự tiến hoá của một dạng nghệ thuật, một dụng cụ tiện ích, một quy luật khoa học mới, đều bao hàm những yếu tố tương đương. Chúng ta quan tâm nhiều nhất đến sự “sáng tạo” của một quy luật khoa học mới hoặc một áp dụng mới của một quy luật cũ, nhưng tôi sẽ nói theo hướng chung chung ở đây thôi.

Một cách tiếp cận vấn đề là hãy quan sát các ý tưởng lớn trong quá khứ và cách mà chúng được hình thành. Thật không may, cách thức mà các ý tưởng này được hình thành chưa bao giờ là rõ ràng với chính những người nghĩ ra chúng.

Ta phải hiểu thế nào về sáng tạo khi có cùng một ý tưởng đột phá cùng đến với hai người khác nhau, cùng một lúc và độc lập với nhau? Có lẽ, những yếu tố tương đồng trong quá trình sang tạo của hai người sẽ làm sáng tỏ vấn đề. Hãy xem xét thuyết tiến hoá qua chọn lọc tự nhiên đươc độc lập hình thảnh bởi Charles Darwin và Alfred Wallace.

Có rất nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều đi đến những nơi xa xôi, quan sát các loài thực vật và động vật kỳ lạ và cách thức chúng thay đổi tính chất theo từng vùng. Cả hai người đều cực kỳ quan tâm đến việc tìm một lời giải thích cho vấn đề này, và cả hai đều không tìm thấy gì cho đến khi họ tình cờ đọc được “Tiểu luận về Dân Số”[4] của Malthus.

Lúc này hai nhà khoa học mới nhận thức về việc bùng nổ dân số và tự đào thải (mà Malthus đã áp dụng lên con người) sẽ khớp với chủ thuyết tiến hoá qua chọn lọc tự nhiên (khi áp dụng với các loài nói chung)

Hiển nhiên, từ đây, ta có thể hiểu rằng điều cần thiết cho sự sáng tạo không chỉ là những người với một nền tảng tốt trong một ngành cụ thể, mà còn là những người có khả năng kết nối những thứ mà bình thường có vẻ không liên quan đến nhau.

Không có nghi ngờ gì rằng vào nửa đầu của thế kỷ 19 đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tự nhiên đã tìm hiểu về cách mà các loài khác biệt nhau như thế nào. Rất nhiều người khác đã đọc Malthus. Có lẽ sẽ có những người vừa học về các giống loài và vừa đọc Malthus. Nhưng chúng ta cần một ai đó vừa học về các loài, đọc Malthus, và có khả năng xây dựng một mối liên hệ giữa hai việc này.

Đây là điểm quan trọng, hay đặc tính hiếm có cho sự sáng tạo. Một khi mỗi liên hệ được xây dựng, mọi thứ trở nên hiển nhiên. Thomas H. Huxley được đồn là đã thốt lên, sau khi đọc Về Nguồn Gốc của Muôn Loài [5], “Tôi thật ngu ngốc vì đã không nghĩ đến điều này.”

Nhưng tại sao ông ấy lại không nghĩ đến nó? Lịch sử các ý tưởng của con người có vẻ tạo ra một ảo tưởng rằng thật khó để nghĩ ra một cái gì đó mới khi tất cả các thông số và tìm kiếm được trình diện đầy đủ. Việc xây dựng một mối liên hệ đòi hỏi một chút liều lĩnh. Phải như vậy, bởi vì mỗi một mối lien hệ mà không đòi hỏi liều lĩnh thì sẽ ngay lập tức được nghĩ đến bởi rất nhiều người, và sẽ phát triển không phải dưới dạng một “ý tưởng mới”, mà chỉ là “hệ luỵ của một ý tưởng cũ”.

Chỉ đến về sau thì một ý tưởng mới mới có vẻ hợp lí. Khi mới bắt đầu, một ý tưởng mới thường có vẻ phi lý. Đã có vẻ là đỉnh cao của sự phi lý khi cho rằng mặt đất có hình tròn chứ không phẳng, rằng nó di chuyển chứ không phải mặt trời di chuyển, hoặc rằng các đồ vật cần một lực cản khi chúng đang di chuyển, thay vì cần một lực để giữ chúng di chuyển, và vv.

Một người sẵn sàng vượt qua lý trí, vượt qua thẩm quyền, và vượt qua lẽ thường phải là một người có lòng tự tin lớn. Bởi vì hiếm khi một người như vậy xuất hiện, anh ta nhất thiết phải có vẻ lập dị (ít nhất trong khía cạnh sang tạo đó) so với tất cả mọi người. Một người lập dị ở một khía cạnh thường sẽ lập dị ở những khía cạnh khác.

Hậu quả là, một người có nhiều khả năng có các ý tưởng mới nhất là một người có nền tảng tốt trong ngành cần sáng tạo, và là một người có các thói quen khác thường. (Tuy nhiên, chỉ là một quái nhân thì không đủ)

Một khi đã có những người ta cần, câu hỏi tiếp theo là: chúng ta có muốn tập hợp họ lại để họ trao đổi về vấn đề cùng nhau, hay ta nên đưa cho họ vấn đề và để mỗi người làm việc biệt lập.

Cảm nhận của tôi là miễn sao có liên quan đến sáng tạo thì sự biệt lập là cần thiết. Con người sang tạo, trong mọi trường hợp, là người nghĩ về nó không ngừng nghỉ. Tâm trí của anh ta nhảy giữa các thông tin ở mọi lúc, kể cả khi anh ta không nhận thức được nó. (Câu chuyện về việc Kekule nghĩ ra cấu trúc của benzene trong lúc ông đang ngủ khá là nổi tiếng.)

Sự hiện diện của những người khác chỉ có thể cản trở quá trình này, do sự sáng tạo vốn gây xấu hổ. Với mỗi một ý tưởng tốt ta có, sẽ có hàng trăm, hàng vạn ý tưởng ngu ngốc mà ta đương nhiên không muốn kể ra.

Tuy nhiên, một cuộc gặp gỡ giữa những nhà sáng tạo nên được mong đợi bởi những lý do nằm ngoài bản thân sự sáng tạo.

Không có hai người nào có kho các ý tưởng giống y hệt nhau. Một người có thể biết đến A và không phải B, một người khác thì biết B và không phải A, và khi mỗi người biết cả A và B có thể cả hai sẽ nghĩ ra ý tưởng mới—nhưng không nhất thiết là ngay lập tức, hay thậm chí là trong một thời gian ngắn.

Hơn nữa, thông tin được lưu trữ trong tâm trí không chỉ đơn giản là những khái niệm độc lập A và B, mà có thể là những tổ hợp như A-B, và có thể những mối liên hệ này không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, nếu một người nhắc đến tổ hợp khác thường A-B, và một người khác nhắc đến tổ hợp khác thường A-C, có thể tổ hợp A-B-C mà lúc đó chưa ai nghĩ ra mới là câu trả lời.

Vì vậy với tôi có vẻ mục đích của các buổi trao đổi sáng tạo không phải là để nghĩ ra ý tưởng mới, mà là để giới thiệu mọi người với các khái niệm và các tổ hợp khái niệm, với các lý thuyết và các suy nghĩ rời rạc.

Nhưng làm thế nào để thuyết phục những người sáng tạo làm điều này? Trước hết, ta cần phải có sự dễ dàng, thoải mái, và sự chấp nhận lẫn nhau. Thế giới nói chung thường đi ngược với sự sáng tạo, và để sáng tạo trước đám đông thì đặc biệt tệ hại. Kể cả phỏng đoán một cách công khai cũng là một động thái dễ gây lo ngại. Bởi vậy các cá nhân tham gia buổi họp nói trên cần phải có cảm giác rằng những người khác sẽ không chối bỏ mình.

Nếu một cá nhân không có khả năng thông cảm với sự ngu ngốc mà sẽ tất nhiên phát sinh ở một buổi họp như trên, những người khác sẽ bị chững lại. Cá nhân không thông cảm này có thể là một mỏ vàng các thông tin, nhưng sự phá hoại mà anh ta mang đến sẽ vượt qua khả năng đóng góp của anh. Vì vậy, với tôi thật cần thiết rằng tất cả mọi người cần sẵn sàng chấp nhận sự ngu ngốc của chính mình, cũng như chấp nhận lắng nghe sự ngu ngốc từ người khác.

Nếu một người tham gia buổi họp có danh tiếng hơn, hoặc giỏi diễn đạt hơn, hoặc có một tính cách mạnh mẽ và dẫn dắt hơn mọi người, anh ta có khả năng sẽ chiếm lấy cả buổi họp và hạ những người còn lại thành không hơn gì một sự vâng lời thụ động. Cá nhân đó có thể vô cùng hữu dụng, nhưng chúng ta thà để anh ta làm việc độc lập, vì anh ta lúc này đang vô hiệu hoá tất cả những người còn lại.

Số lượng người tham gia một buổi họp này có lẽ sẽ không nhiều. Tôi phỏng đoán là không nhiều hơn năm người sẽ là số lượng vừa đủ. Một nhóm đông hơn có thể cung cấp một lượng thông tin lớn hơn, nhưng sẽ có căng thẳng từ việc chờ đến lượt nói, điều này cũng gây bực mình. Có lẽ sẽ tốt hơn nều có vài buổi họp mà những người tham gia sẽ thay đổi, thay vì có một buổi có tất cả mọi người. (Điều này sẽ tạo ra một chút lặp lại, nhưng chính sự lặp lại này cũng không đến mức bất tiện. Chúng ta không quan tâm nhiều đến những điều được nói ra trong các buổi họp này bằng những cảm hứng sẽ được gây nên trong mỗi người sau này.)

Để tiện lợi nhất, buổi họp nên có cảm giác không quá nghiêm túc. Thái độ vui vẻ, việc sự dụng tên vắn, việc nói đùa , sự thoải mái bỡn cợt, theo tôi, là cần thiết—không phải bởi chính bản thân chúng, mà vì những điều này khuyến khích mong muốn tham gia vào những điên rồ của sự sáng tạo. Ví mục đích này tôi cho rằng một buổi họp ở nhà của ai đó hoặc trên một bàn ăn trong nhà hàng sẽ tốt hơn là ở một phòng họp hội thảo.

Có lẽ gây hạn chế nhiều hơn bất kì cái gì là cảm giác về trách nhiệm. Các ý tưởng lớn của thời đại đều đến từ những người không được trả tiền để nghĩ ra các ý tưởng, họ chỉ được trả tiền để làm các nhà giáo, những nhân viên cấp bằng sáng chế [6], hay những viên chức nhỏ bé, hoặc họ không được trả xu nào. Các ý tưởng vĩ đại đến dưới dạng các vấn đề ngoài lề.

Cảm giác tội lỗi từ việc cảm thấy không xứng đáng với mức lương của mình do bản thân chưa có một ý tưởng tốt là cách chắc chắn nhất, với tôi, để đảm bảo rằng sẽ không có một ý tưởng tốt nào đến sau này.

Thế nhưng công ty của chúng ta lại đang tiến hành một chương trình họp trao đổi sáng tạo [7] trên tiền của chính phủ. Cảnh những nghị sĩ hoặc công chúng nghe về các nhà khoa học lãng phí thời gian, tiêu phí tài nguyên, đùa cợt bậy bạ trên ngân sách nhà nước thật dễ gây toát mồ hôi. Thực ra, nhà khoa học trung bình có đủ nhận thức về công chúng để không muốn làm việc này kể cả khi không có ai biết về nó.

Tôi muốn đề xuất rằng các thành viên của một buổi trao đổi sáng tạo được giao những việc đơn giản, “ngồi chơi xơi nước” để làm—các thông báo ngắn, tóm tắt các kết quả khoa học, hoặc các câu trả lời vắn tắt cho các vần đề được nêu ra—và được trả tiền cho những việc này, phần lương này sẽ chính là phần tiền thường được trả cho các buổi họp trao đổi sáng tạo trên tiền ngân sách chính phủ. Bản thân các buổi họp cần được miễn phí trên giấy tờ, và việc này cũng sẽ tạo điều kiện cho một sự thư giãn đáng kể.

Tôi không cho rằng các buổi họp sáng tạo này không cần sự hướng dẫn. Phải có một ai đó đứng ra dẫn buổi họp, và đóng vai trò giống một nhà trị liệu phân tâm học. “Nhà trị liệu” này, theo như tôi hiểu, bằng cách hỏi những câu hỏi đúng đắn (và ngoài việc hỏi này thì can thiệp ít nhất có thể), đảm bảo những “bệnh nhân” của mình có thể trao đổi về cuộc đời của họ để gợi ra một cách hiểu mới về nó trong mắt nhà trị liệu.

Tương tự, một người trọng tài trong buổi họp nói trên sẽ cần ngồi đó, kích thích tinh thần [8], hỏi những câu hỏi mưu mẹo, đưa ra những lời bình luận cần thiết, và tập trung vào trọng tâm vấn đề một cách nhẹ nhàng. Vì người trọng tài sẽ không biết câu hỏi nào mới là thông minh, lời bình luận nào là cần thiết, và vấn đề chính là gì, việc của anh ta sẽ không hề đơn giản.

Về các “dụng cụ” được thiết kế để khơi gợi sự sang tạo, tôi nghĩ chúng nên được phát sinh từ chính những cuộc họp không chính thức này. Nếu được thư giãn, được giải thoát khỏi các trách nhiệm, và được trao đổi những vấn đề họ quan tâm, những người tham gia sẽ tự tạo ra những công cụ để kích thích việc trao đổi.

Published with permission of Asimov Holdings.

***

[1] Guide Line Identification Program for Antimissile Research

[2] Advanced Research Projects Agency

[3] “think out of the box”

[4] “Essay on Population

[5] “On the Origin of Species

[6] Ám chỉ đến Einstein, người đã phải làm một nhân viên cấp bằng sáng chế trong suốt 2 năm sau khi tốt nghiệp.

[7] Bản gốc tác giả dùng “cerebration sessions”, có thể dịch là các buổi động não, nhưng nghe hơi thô, nên tớ sẽ đổi thành như trên. Các buổi họp sáng tạo = cerebration sessions.

[8] “kích thích những con thú” (trong mỗi người?) = “stirring up the animals”


1 Comment

Dịch: A life changing experience

Original Article can be found here. The following is my own unedited translation  for the budding Vietnamese community of  biodynamic agriculture practitioners. I was also a participant in the workshop mentioned.

_________________________________________________________________

Một trải nghiệm đáng nhớ: Giới Thiệu Các Kỹ Thuật Nông Nghiệp Biodynamic cho các Cộng Đồng ở Việt Nam – Sandra Frain

Có một bài thơ của Goethe lột tả khá tốt cảm nhận “đan dệt số phận” mà rất nhiều người trong chúng ta đã có trong quá trình hình thành Cộng Đồng Biodnyamic Việt Nam (Community Biodynamic Vietnam-CBC)

How each the WHOLE its substance gives,

Each in the other works and lives!

See heavenly forces rising and descending,

Their golden urns reciprocally lending:

On wings that winnow sweet blessing

From heaven through the earth they’re pressing

To fill the All with harmonies caressing

(dịch)

Kì diệu thay trong từng phần cá thể sự Hợp Nhất được trao đi

Và trong những cơ thể mới chúng tiếp tục làm việc, sống

Hãy ngắm nhìn những thế lực thần thánh leo lên và tụt xuống,

Những chiếc hũ vàng trao đổi với nhau:

Trên những lớp cánh nâng niu lời chúc ngọt ngào

Từ thiên đường đến mặt đất chúng đẩy đưa

Lấp đầy cái Tất Cả với những hoà âm

CBC là một nhóm dạng cộng đồng được hình thành để hỗ trợ các các nhân có quan tâm sâu sắc đến biodynamic. Các mục tiêu chính của nhóm là tiếp cận thông tin, xây dựng hỗ trợ tinh thần, và cách mạng hoá các phương pháp nông nghiệp tại Việt Nam. Facebook được sử dụng làm công cụ chính để đưa thông tin.

Hiện nay đang có một nông trại biodynamic tập trung vào việc chăm sóc cho các thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn ở gần Huế, miền Trung Việt Nam. Đây là một cộng đồng nhộn nhịp và trứ danh, theo mô hình Rudolf Steiner Camphill. (www.eurasia.org.vn – Foundation and Association for Special Education in Vietnam. Hiệp Hội Eurasia, Hiệp Hội Vì Sự Phát Triển Ngành Sư Phạm Trị Liệu, được thành lập từ năm 2002, và hoàn thành xây dựng cơ sở và cộng đồng vào 7/2006). Hà Vĩnh Lisi và chồng cô, anh Hà Vĩnh Thọ, đều là các nghệ sĩ eurythmy và các giáo viên được đào tạo theo trường phái Waldorf, là những nhà sáng lập. Ông Hùng là một nhà nông thực hành biodynamic được đào tạo ở Ấn Độ và Mỹ. Hiện tại cũng có hai chuyên gia biodynamic thỉnh giảng ở đây.

Với phần còn lại của xã hội Việt Nam, vẫn còn có rất nhiều việc để làm trong công cuộc giáo dục mọi người về một cách làm nông mà có thể hồi phục được không khí, nước và đất đai, cũng như các thực vật, động vật, và con người.

Chính ở mảng này mà tôi được gặp Tarun Nguyễn Trí, một học viên của chương trình Giáo dục mầm non Steiner (ECE) của cô Thanh Cherry, một giáo viên người Úc gốc Việt. Câu trả lời cho câu hỏi của Trí với cô Thanh, “Làm thế nào để tôi có thể hỗ trợ sức khoẻ cho gia đình, bạn bè, mặt đất, và loài ong?”, là “Anh phải trở thành một người nông dân theo phương pháp biodynamic”. Trong vòng 2 tháng, Tarun Trí, một thầy giáo yoga có bằng cử nhân ngành IT, đã tổ chức hai khoá học biodynamic workshop kéo dài ba ngày rưỡi, ở cả miền Bắc lẫn miễn Nam Việt Nam, trong tháng 5 vừa rồi. Các khoá học ngắn này được tổ chức đi kèm và song song với hai khoá workshop Mầm Non Steiner kéo dài một ngày, được tổ chức bởi nhóm các hệ thống trường mầm non lấy cảm hứng từ phương pháp Steiner, ở cả Sài Gòn và Hà Nội.

Một vài cá nhân tham dự khoá Mầm Non Steiner đã đăng ký để học khoá học biodynamic sau khi họ nhận ra rằng việc giáo dục con trẻ và việc chữa lành cho nhân loại là những điều ẩn hiện trong việc học và thực hành nông nghiệp biodynamic.

Những rào cản và dấu hiệu của sự bất khả thi trong việc tổ chức dẫn dần tan biến sau khi chúng tôi hoàn thành chuẩn bị chương trình, các địa điểm, sắp xếp các trách nhiệm, các sản phẩm, và lên kế hoạch về những người tham dự khả thi từ cả Úc lẫn Việt Nam.

Sau khi xác định được cơ sở cho hai khoá học biodynamic ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tôi gửi một danh mục các thành phẩm cần thiết cho việc làm phân bón, phân bò đặc biệt ủ trong hố (CPP), phân sừng (horn manure), cát sừng (horn silica), và hỗn hợp “bột cây” (tree paste) để chuẩn bị ở tất cả các địa điểm. Các cơ sở này bao gồm một nông trại hữu cơ ở ngoại ô Hà Nội (trồng lẫn rau và các loại cây), một vườn cây cộng đồng ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh—trong nửa ngày, và một rừng thuốc ở ngoài thành phố, nơi đã từng là nơi cư trú cho lính Nhật, và sau này là quân đội Mỹ trong quá khứ.

Về phần mình, tôi tham gia khoá học Chế Phẩm cho Bậc Thầy (Master Prep) ở Bellingen với Alan và John chỉ vài ngày trước khi đến Việt Nam. (Tôi đã canh tác nông nghiệp biodynamic từ lúc bắt đầu nghiên cứu dưới sự chỉ dẫn của Gunther Hauk ở New York vào năm 1997, tại vườn Pfeiffer Centre.)

Tôi bắt đầu công việc ở Việt Nam của mình với việc tạo một ụ phân tại vườn quất của trường Steiner Hà Nội. Thửa ruộng nằm ở ngoại ô, và bị bao vây bởi những thửa ruộng độc canh, với nhiều dấu hiệu của việc phun thuốc và phân hoá học. Đến tham gia cùng chúng tôi có một vài chuyên gia từ Sài Gòn, và một số người làm thuê hỗ trợ chúng tôi trong công việc ủ phân hàng chiều. Các tấm ảnh được đăng lên mạng xã hội giúp khơi dậy mối quan tâm với khoá học.

Mạng lưới quan hệ của Tarun Trí được dựa trên công việc với việc thiền và Yoga, và với trải nghiệm phát triển cộng đồng giáo dục Steiner tại Việt Nam. Ban đầu, số học viên trả tiền để tham gia khoá học chỉ bằng với số người tình nguyện đến hỗ trợ sự kiện, nhưng con số này đã may mắn tăng gấp đôi vào buổi giới thiệu  đầu tiên. Các học viên của khoá học bao gồm những nhà nông, những người làm tiếp thị, nhà sản xuất nông cụ, giáo viên, kĩ sư, dân buôn bán, các chủ nhà hàng, và các chuyên gia ngành y. Mỗi ngày số học viên lại tăng thêm một chút. Những người có nhiều mối hoài nghi dần được thuyết phục về giá trị của nông nghiệp biodynamic, họ đã bày tỏ lòng biết ơn với trải nghiệm đổi đời này. Ngày nào chúng tôi cũng có hơn 30 người. Tham gia cùng chúng tôi còn có vài gia đình lớn (ông bà, cha mẹ, con cái), và 4 phụ nữ có thai. Những đứa trẻ chạy nhảy khắp khu vườn, thoắt ẩn thoắt hiện trong các hoạt động của khoá học.

Cách tiếp cận vấn đề của khoá học là một sự giao thoa giữa các dạng bài giảng và rất nhiều các hoạt động văn nghệ, ca hát, và thiền định theo Goethe. Bên cạnh đó chúng tôi có khuyến khích việc nâng cao ý thức qua các chuyển động sáng tạo, để hỗ trợ quá trình học tập cân bằng và lành mạnh.

Trong thời gian tiến hành khoá học, chúng tôi ở lại khu vườn, và Tarun Trí nhấn mạnh rằng chúng tôi sẽ nấu và ăn các món thuần chay, và để dành ra các buổi tối để giao lưu văn hoá. Chúng tôi bắt đầu ngày mới bằng Yoga sau khi ngắm mặt trời mọc. Chúng tôi kết thúc ngày bằng ca hát, chia sẻ, và những tiếng cười vui sau khi ngắm mặt trời lặn.

Cộng đồng ở đây lớn mạnh không chỉ qua những buổi giao lưu giữa các lớp học gò bó trong cấu trúc, mà qua chính những lớp học này. Các học viên dường như luôn sôi sục với các câu chuyện và những trao đổi trước và sau mỗi giờ học. Do những gì tôi nói đều phải được phiên dịch, các khái niệm luôn cần được ôn lại, ví dụ như việc chuẩn bị các chế phẩm.

Khoá học nông nghiệp biodynamic đầu tiên được tổ chức tại nông trại hữu cơ Tuệ Viên, ở ngoại ô Hà Nội, trong khoảng ngày 13-16 tháng 5. Các “đặc sản” ở nơi đây là cây chùm ngây, và ổi (cả cây trưởng thành và cây non), và vô số các loại rau. Hằng ngày các củ quả tươi ở đây được đóng gói và phân phối khắp Hà Nội. Các chế phẩm khô bao gồm chè, thuốc, và các chất và đồ cọ rửa hữu cơ.

Nơi đây cũng là một trung tâm cho phong trào Slow Food {phong trào ăn uống tự nhiên, bài trừ đồ ăn nhanh, một phần của phong trào Slow – Sống Chậm, một phong trào ủng hộ các lối sống thay thế mới}. Một phần của nông trại đã được trồng đa canh, các cây này khoẻ mạnh và lớn nhanh. Các phần khác vẫn canh tác độc canh, và rõ ràng là các cây đang chịu đựng và héo hắt. Sự đối lập giữa hai nhóm này là rõ rệt.

Đã có rất nhiều các ụ phân, phân làm từ giun đất (vermicompost/ worm farm) và phân lỏng có pha chế phẩm EM (effective microoganisim). Phân làm từ nghệ là ấn tượng nhất, với kết quả là đất vàng kim. Tôi tin rằng cả khu vườn này sẽ được hưởng lợi từ các loại động vật sinh sống tại đây, và phân của chúng.

Hoạt động nhóm đầu tiên của chúng tôi là làm một ụ phân. Ở đây tôi dạy các học viên về các cân bằng axit và bazơ (acid/ alkaline), cân bằng giữa carbon và nitơ, và cân bằng khô/ướt. Sau khi chúng tôi trịnh trọng đưa các chế phẩm vào ụ phân, chúng tôi hát một bài hát tiếng Việt với hình ảnh các đàn chim làm cho Trái Đất quay tròn!  Bài hát này đã trở thành một nghi thức mỗi khi chúng tôi làm xong một ụ phân, hay trong quá trình chuẩn bị các chế phẩm. {note: Trái Đất Này Là Của Chúng Mình}

Một trong những trải nghiệm cảm động nhất cho các học viên là việc tiếp nhận và ôm trọn lấy các cảm nhận vê tinh thần mà nông nghiệp biodynamic có thể đạt được. Tôi tin rằng thói quen bày tỏ sự tôn kính và sự hướng thiện trong từng phần của quá trình canh tác nông nghiệp sẽ hỗ trợ mọi người trong việc có được sự chuyển hoá về tâm trí/ cơ thể/ tinh thần thích hợp để tiếp nhận nông nghiệp biodynamic. Đôi khi không khí ở đây có màu sắc của một lễ hội, với mọi người cười nói, hát hò, nháy nhót, và bàn luận triết học, ngay cả trong lúc chuẩn bị phân bón và các chế phẩm, trong lúc nghiền các vỏ trứng, trong việc khuấy nước, và trong cả việc nhồi phân vào sừng trâu và chôn chúng.

Mỗi ngày chúng tôi đều bắt đầu các buổi học 7h sáng ở cạnh ụ phân, và trao đổi về các quan sát bằng xúc giác và thị giác. Một sự kiện thú vị và hài hước xảy ra khi có vài con cóc nhảy ra từ những chiếc lá chuối chúng tôi sử dụng để bọc lấy ụ phân, dường như để đáp lại những lời ca và sự hiện diện đầy tò mò của chúng tôi. Rất nhiều học viên có cực kì ít trải nghiệm trong tự nhiên, vì vậy họ đã giật mình và tỏ ra vô cùng phần khởi với các sự kiện như trên. Việc này đã củng cố cho ấn tượng với trải nghiệm nông nghiệp biodynamic.

Tôi ấn tượng nhất với việc tất cả mọi người đã vô cùng hăng hái đưa tay trần của họ vào nhào để chuẩn bị cho chế phẩm CPP- phân đặc biệt ủ trong hố (Cow Pat Pit) và hỗn hợp bột cây (tree paste), cả hai đều cần đến phân bò. Những hoạt động này khơi gợi lại các ký ức từ thuở ấu thơ. Nhiều học viên đã chia sẻ rằng sau trải nghiệm này họ sẽ không bao giờ nhìn một đống phân bò trên đường mà không có ý thức về các dược tính của chúng, cho cả nông nghiệp và con người.

Một trải nghiệm xúc động khác là việc khuấy các chế phẩm. Các học viên cảm thấy sự hợp nhất với nước, và họ chiêm ngưỡng sự chuyển hoả của các lớp nước và các dạng hình của hình học linh thiêng (sacred geometry). Một kỹ sư có nghiên cứu sách vở về biodynami hằng năm trời chia sẻ với chúng tôi ‘GIỜ tôi mới hiểu việc Khuấy này có ý nghĩa như thế nào’, và anh đã chụp lại ảnh các xoáy nước để ghi lại khoảnh khắc Ơ-rê-ka này.

Khi chúng tôi áp dụng chế phẩm bột cây lên một lùm ổi đang héo hon, đã có khá nhiều la hét từ các thanh thiếu niên, cả nam và nữ. Họ bị kích động bởi những con sâu róm lông lá đang ngấu nghiến các cây con, và những con nhện đang nhả tơ trong góc cũ nát này. Sau khi chúng tôi kiên trì và nhất quyết chà xát bột cây lên các cây non này, lùm ba mươi cây này bắt đầu có dáng dấp thẳng đứng tích cực. Mặt khác, phủ phục dưới đất là những tán cây khoai lang, phải hứng chịu những cú đạp trong hoạt động đầy thiện ý của chúng tôi.

Các học viên nào có khó khăn trong việc chứng kiến và chấp nhận sự sống của những loài côn trùng đều đã được khuyến khích lấy trải nghiệm này làm cơ hội để đối mặt với nỗi sợ của mình, bởi vì để làm một “sứ giả Biodynamic” họ phải có khả năng thoải mái trong thiên nhiên. Làm sao ta có thể mong đợi trẻ em thư giãn và ôm lấy thiên nhiên, và không dựa dẫm vào các bình xịt côn trùng nếu những người lớn xung quanh các em lại tỏ ra sợ hãi? Đây là một cơ hội tuyệt vời để học hỏi về những loài côn trùng không chào đón sự can thiệp, và để làm rõ vài cách thức mà có thể làm giảm sự hiện diện của những loài này; một trong đó là việc chuẩn bị và sử dụng bột ớt. Các học viên là nhà nông lúc này đã rất tự hào với viễn cảnh giảng dạy những người sợ thiên nhiên về các chu kì sinh sôi của côn trùng, và cách để bắt chúng. Với nhóm này, chúng tôi tìm một bài tập khá hữu dụng về việc gây dựng một kiểu nhận thức khác.

Trong lớp học về loài ong, chúng tôi chiếu một trích đoạn trong bộ phim tài liệu, The Hour of Decision, của Gunther Hauk, về loài ong và mối hiểm nguy với loài này từ nông nghiệp sử dụng hoá chất. Cuộc trao đổi sau trường đoạn phim này như được bừng cháy! Nhiều học viên cảm thấy một sự khiếp sợ tuyệt đối với các hậu quả của nông nghiệp chính thống lên loài người và sự sống trên Trái Đất. Vâng, quả thật là vẫn cần nhiều chia sẻ để thay đổi nhận thức ở đây.

Có rất nhiều học viên ăn chay, vì vậy các chế phẩm sử dụng sừng bò hay các bộ phận cơ thể khác của động vật có gây nên một chút lo lắng về khía cạnh đạo đức. Tôi đã tìm cách truyền đạt được sự tôn kính sâu sắc của các nhà nông biodynamic với những bộ phận cơ thể đầy linh thiêng này. Cấu trúc của mỗi phần cơ thể này thật sự là được tạo nên một cách hoàn hảo và không thể thay thế được bằng bất kì sản phẩm nhân tạo nào. Các học viên thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra rằng những người thực hành biodynamic không giết bò chỉ để lấy sừng hay ruột của chúng cho phân bón. Chúng ta đều kính cẩn trong tiếp cận của mình. Vì vậy nên đây là việc tôn vinh các loài động vật, chứ không phải là lợi dụng chúng.

Khi tôi nói về việc phân bò quý như vàng đối với những người nông dân biodynamic, một học viên đã hồi tưởng về một câu nói của cổ nhân, rằng một người nông dân ở Việt Nam bắt đầu cả một nông trại chỉ với một con trâu. Quả thật ở nơi đâu những lời khôn ngoan cũng tương tự nhau.

Những người chủ nông trại cũng tham gia khoá học cùng chúng tôi. Trong khi các học viên khác sẽ quay lại thăm và chăm nom cho các chế phẩm, chỉ có sự hỗ trợ từ những người chủ nông trại mới có thể giữ cho canh tác biodynamic tiếp tục được hình thành ở đây.

Do khu vườn chúng tôi đến ở Sài Gòn (Saigon Inner City Garden) được xây từ một khu nhà hoang chờ bị phá dỡ, cũng là tụ điểm cho các con nghiện, có một định kiến lớn cho rằng những người quan tâm đến nông nghiệp biodynamic chỉ là đám trẻ chạy theo mốt. Trái ngược với định kiến này, tôi để ý thấy những nhà sáng lập trẻ tuổi ở đây là những người gây ấn tượng nhất qua lòng quyết tâm và sự cống hiến của họ.

Thật trớ trêu là ông Công ở khu rừng thuốc ở ngoại ô Sài Gòn vẫn thường đốt một tấn rác hữu cơ và vô cơ một ngày. Việc làm phân bón ở các rừng nhiệt đới và các khu phòng khám/ nhà máy sẽ là một cống hiến diệu kỳ cho quá trình phát triển (và kiến tạo!) nền đất trong thành phố. Tôi hy vọng một ngày nào đó chế phẩm phân bò CPP (Cow Pat Pit) và chế phẩm Kích Hoạt Đất (Soil Activator) sẽ thay thế những túi phân nitơ đang được vứt ở gốc của rất nhiều cây nơi đây, và loại bỏ dần thứ công cụ chết chóc này.

Tôi rất khuyến khích bất kì ai có hứng thú với việc chia sẻ kiến thức và thời gian của mình đến thăm Việt nam và gặp gỡ với những người trẻ mạnh dạn và nhiệt tình nơi đây. Dĩ nhiên, trong thời gian ở đây chính tôi cũng được học rất nhiều về các phương pháp nông nghiệp truyền thống và hiện đại.

Tôi tin rằng phát biểu của Steffen Schneider, đến từ Viện Nông Nghiệp có Ý Thức (Institute for Mindful Agriculture-IMA) diễn đạt một cách mẫu mực những gì đang được thai nghén ở Việt Nam: “… tái định hình các lý thuyệt và thực hành trong nông nghiệp, để xây dựng một thế giới mà các cá nhân trong đó sẽ một lần nữa được kết nối mạnh mẽ với nguồn sống của họ, một thế giới mà thức ăn được chuẩn bị trong đối thoại tích cực giữa con người với thiên nhiên, và thức ăn được phân phối một cách công bằng.

Để hoàn thành các trách nhiệm cho tương lai, phương pháp nông nghiệp mới này sẽ đòi hỏi chúng ta phải hình thành một cách có ý thức các hoạt động phát triển tâm thức… IMA sẽ tiếp cận những cá nhân có tầm nhìn, những người thực hành, và những nhà giáo dục từ văn hoá ẩm thực và trường phái kinh tế mới nổi này để tiến hành những nghiên cứu tập trung vào việc gia tăng phát triển cho mô hình cách mạng này. Cùng nhau chúng tôi sẽ đảm bảo răng một dạng nông nghiệp-văn hoá thực sự mang tính tái tạo môi trường sẽ có thể được phát tán ở tầm cỡ quốc tế cũng như địa phương.” (trích từ cuốn The ‘Koberwitz Impulse’: Biodynamics and the Institiute for Mindful Agriculture, Phần 1, Stella Natura 2016)

Tại cơ sở rừng thuốc, khi đưa các chế phẩm vào phân bón và trao đổi về các loại cây có thể dùng thay thế trong việc tạo các chế phẩm, ông Công, một chuyên gia về Đông ý và đạo Lão, đã ngâm lại một bài thơ 1000 tuổi về cây. Cúc dương kỳ thảo! Bài thơ kể về một cô gái đang khóc vì cô làm mất chiếc cài tóc bằng hoa dương kỳ thảo này. Tại sao không đơn giản làm một chiếc khác? Bởi vì đó là chiếc duy nhất được tặng bởi người yêu cô.

Cộng Đồng Biodynamic ở Việt Nam đã nhanh chóng đăng ký đặt hàng một lượng lớn các chế phẩm từ Hội Nông nghiệp Biodynamic của Úc (BAA). Họ đã cam kết sẽ đến thăm các vùng đất của nhau và thực hành biodynamic. Bản hướng dẫn sử dụng tài nguyên cực kì nhiều thông tin của BAA đã được dịch sang tiếng Việt, sau đó bản dịch của ấn phẩm New Leaf cũng sẽ được hoàn thành… Địa chỉ trang Facebook của nhóm hiện tại chính là triyogahealth.

Những học viên ở Việt Nam gửi gắm lòng biết ơn với các ấn phẩm New Leaf, bản hướng dẫn sử dụng, và các chế phẩm được BAA gửi tặng. Nancy và Alf Finch của nhóm Eden Seeds cũng đã gửi sách theo yêu cầu.


Leave a comment

White, White Collars – Dennis Johnson

Cổ Cồn Trắng, Trắng

Làm việc trong tòa cao ốc này và gớm ghiếc là chúng tôi

trong ánh đèn huỳnh quang, bạn biết đấy những bộ đồng phục này

tỉnh dậy sáng nay và nuốt chúng tôi như những viên đá quý

và chạy ngược xuôi trên những buồng thang máy, chứa đầy những người

quay và quay lại như một tuồng ánh sáng đi đi lại lại

khắp các sàn nhảy và xen giữa những kẻ ngốc đang nhảy múa.

Văn phòng tôi mùi như một lý thuyết, nhưng tại đây ta khóc

khi được nhìn thấy sự tốt đẹp của thế giới được phơi trần

và dâng lên cùng với nhà nước trên môi,

bảng chữ cái đông cứng lại trong không khí

xung quanh những cái đầu. Nhưng tại đám lửa bập bùng trong tôi

ai đó đang nhảy múa, và gọi tôi bằng đủ những cái tên

đầy bí mật và tràn đầy ánh sáng và dâng lên

và vỡ vụn, và tôi thấy những kiếp trước của mình.

White, White Collars

We work in this building and we are hideous

in the fluorescent light, you know our clothes

woke up this morning and swallowed us like jewel

and ride up and down the elevators, filled with us

turning and returning like the spray of light that goes

around dance-halls among the dancing fools.

My office smells like a theory, but here one weeps

to see the goodness of the world laid bare

and rising with the government on its lips,

the alphabet congealing in the air

around our heads. But in my belly’s flames

someone is dancing, calling me by many names

that are secret and filled with light and rise

and break, and I see my previous lives.