5

IFHTP

Dịch: A Taste for Makers – Paul Graham

Leave a comment

I spent the first months of this 2017 reading all of Paul Graham’s essays, and needless to say the experience changed me–for better or worse. Since I’ve been translating quite the self-help mix, I thought I’d also add this, as tribute, and as another fun thing to do. Translating this huge thing got me to interact with the essay on a much deeper (and perhaps more minute/trivial) level.

Taste for Makers – PG

________________________________________________________________

Khiếu thẩm mỹ[0] cho những nhà sáng chế – Paul Graham

Tháng 2 năm 2002

“Các chống đối về thẩm mỹ của Copernicus liên quan đến [các điểm tâm sai] đã cung cấp động cơ thiết yếu cho việc bác bỏ hệ thổng Ptolemy của ông…”

– Thomas Kuhn, Cuộc Cách Mạng của Copernicus

“Tất cả chúng tôi đã được huẩn luyện bởi Kelly Johnson và tin tưởng một cách cuồng tín vào đòi hỏi khăng khăng của anh ấy rằng một cái máy bay mà trông đẹp thì sẽ bay đẹp tương tự.”

-Ben Rich, Skunk Works

“Tính đẹp là bài kiểm tra dầu tiên: không có chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí.”

-G.H. Hardy, Lời Xin Lỗi của một Nhà Toán Học

Tôi vừa nói chuyện với một anh bạn giáo sư ở MIT. Ngành của anh ta đang lên và hằng năm anh bị ngập trong các hồ sơ apply của các nghiên cứu sinh tiềm năng. “Phần lớn đám này đều có vẻ thông minh,” anh bình luận. “Cái mà tôi không thể chắc chắn là nếu họ có chút khiếu thẩm mỹ gì không.”

Khiếu thẩm mỹ. Bạn không hay nghe về từ [1] này. Vậy mà chúng ta luôn cần cái khái niệm đứng sau nó, dù ta có gọi đó là gì đi nữa. Ý anh bạn tôi là anh muốn các sinh viên vừa giỏi về mảng kỹ thuật, nhưng đồng thời cũng có thể dùng kiến thức kỹ thuật ấy để thiết kế những thứ thật đẹp.

Các nhà toán học gọi các công trình nghiên cứu tốt là “đẹp,” và dĩ nhiên, dù bây giờ hoặc trong quá khứ, điều này cũng đúng với các nhà khoa học, các kỹ sư, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, nhà văn, và các hoạ sĩ. Liệu đây có phải là một sự trùng hợp khi tất cả mọi người dùng cùng một từ, hay là có một cái gì đó thực sự chung giữa ý của mỗi nhóm? Nếu thực sự có một cái gì đó tương đồng, liệu chúng ta có thể dùng các khám phá trong một ngành để hỗ trợ một ngành khác?

Với những người có thiết kế các sản phẩm, đây không phải là những câu hỏi lý thuyết. Nếu thực sự có một cái gì đó là cái đẹp, chúng ta cần có khả năng nhận dạng nó. Chúng ta cần khiếu thẩm mỹ tốt để tạo ra những sản phẩm tốt. Thay vì coi cái đẹp là một khái niệm trừu tượng bay bổng, để nói nhảm hoặc né tránh tuỳ theo cách mỗi người cảm nhận về các khái niệm trừu tượng bay bổng, hãy thử suy nghĩ về nó như một câu hỏi thực tế: làm thế nào để tạo ra những sản phẩm tốt?

Nếu bạn nhắc đến khiếu thẩm mỹ ngày nay, rất nhiều người sẽ bảo với bạn rằng “khiếu thẩm mỹ [2] là chủ quan.” Họ tin vào điều này vì họ thực sự cảm nhận như vậy. Khi họ thích một cái gì đó, họ không biết tại sao. Có thể vì cái thứ họ thích thật đẹp, hoặc vì mẹ của họ có một cái tương tự, hoặc vì họ thấy một diễn viên nổi tiếng đeo nó trong trang bìa một tờ báo, hoặc vì họ biết rằng nó thực sự đắt. Các suy nghĩ của họ là một mớ bòng bong các thôi thúc không được phân tích.

Phần lớn chúng ta từ nhỏ đã được khuyến khích từ bỏ phân tích và thấu hiểu các thôi thúc này. Nếu bạn trêu chọc em trai mình vì “tội” tô màu mọi người màu xanh lá trong sách tô màu của mình, nhiều khả năng mẹ bạn sẽ nói với bạn một cái gì đại loại như là “con thích tô màu kiểu của con và em thích tô màu kiểu của em.”

Mẹ bạn vào lúc này đang thực sự không cố gắng dạy bạn các sự thật quan trọng về thẩm mỹ. Mẹ bạn chỉ cố gắng dừng cãi nhau giữa bạn và em trai bạn.

Giống như những sự nửa-thật khác mà người lớn nói với chúng ta, cái này đi ngược với nhiều điều khác họ dạy. Sau khi nhồi nhét tư tưởng rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là vấn đề lựa chọn cá nhân, họ dẫn bạn đi dến các bảo tàng lớn và nói với bạn rằng con nên tập trung xem tranh vì Leornado là một nghệ sĩ vĩ đại.

Cái gì xảy ra trong đầu đứa trẻ vào lúc này? Nó sẽ nghĩ “nghệ sĩ vĩ đại” có ý nghĩa gì? Sau khi được bảo rằng mỗi người thích làm các thứ theo ý mình, đứa trẻ sẽ ít có khả năng đi thẳng đến kết luận rằng nghệ sĩ vĩ đại là một người mà các tạo phẩm của họ tốt hơn bất kì tạo phẩm của ai khác. Một khả năng lớn hơn nhiều, trong mô hình Ptolemy mô phỏng thế giới của đứa trẻ, là một nghệ sĩ vĩ đại là một cái gì đó tốt cho bạn, giống như súp-lơ tốt cho sức khoẻ, chỉ vì ai đó nói thế trong một cuốn sách.

Nói rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là ưa thích cá nhân là một cách tốt để phòng ngừa tranh cãi. Vấn đề là, nó không đúng. Bạn cảm thấy điều này khi bạn thực sự thiết kế các thứ.

Bất kể trong nghề gì, tự nhiên mọi người đều muốn làm tốt hơn. Các cầu thủ bóng bầu dục muốn thắng các trận bóng. Các CEO muốn kiếm nhiều tiền hơn. Đây là một vấn đề của tự hào, và một niềm hạnh phúc, để được trở nên tốt hơn trong nghề. Nhưng nếu nghề của bạn là thiết kế các thứ, và nếu không có gì là cái đẹp, thì thực sự không thể có một cách nào để làm tốt hơn trong nghề của bạn. Nếu mọi thứ chỉ là ưa thích cá nhân, thì tất cả mọi người đều đã hoàn hảo: bạn thích cái gì bạn thích, và chỉ như vậy là đủ.

Giống như trong mọi nghề khác, khi bạn liên tục thiết kế các thứ, bạn trở nên giỏi hơn trong việc thiết kế. Khiếu thẩm mỹ của bạn thay đổi. Và giống như tất cả những người trở nên giỏi hơn trong nghề, bạn biết rằng bạn đang trở nên tốt hơn. Nếu thế, những cái cảm nhận thẩm mỹ [3] cũ của bạn không chỉ khác, mà còn kém hơn cái bạn đang có. Tiên đề nói rằng khiếu thẩm mỹ không thể “sai” vừa bị tôi cho bốc hơi.

Chủ nghĩa tương đối đang thịnh hành ở thời đại này, và nó có thể sẽ cản trở bạn trong việc suy nghĩ về khiếu thẩm mỹ, kể cả khi khiếu thẩm mỹ của bạn lớn lên. Nhưng khi bạn đi ra khỏi phòng ngủ và thú nhận, ít nhất là với bản thân, rằng có một cái gì đó gọi là thiết kế tốt và thiết kế kém, bạn có thể bắt đầu học về các thiết kế tốt một cách cặn kẽ. Khiếu thẩm mỹ của bạn đã thay đổi như thế nào? Khi bạn phạm sai lầm, cái gì làm điều đó xảy ra? Mọi người khác đã học gì về thiết kế?

Khi bản thực sự tìm hiểu câu hỏi, thật đáng ngạc nhiên rằng các khái niệm về cái đẹp của các ngành khác nhau có nhiều điểm chung như vậy. Các quy luật về thiết kế tốt xuất hiện đi xuất hiện lại.

Thiết kế tốt thì đơn giản. Bạn được biết về điều này từ toán học cho đến mỹ thuật. Với toán học một chứng minh ngắn hơn thường là một chứng minh tốt hơn. Đặc biệt là với các tiên đề, càng ít càng tốt. Điều này gần như không khác gì trong lập trình. Với các kiến trúc sư và nhà thiết kế, cái đẹp chỉ nên dựa trên một vài yếu tố về cấu trúc được chọn lựa kỹ càng, thay vì quá nhiều những tô vẽ hời hợt. (Bản thân trang trí không phải cái xấu, trừ phi nó bị che đậy dưới sự vô vị. ) Tương tự, trong mỹ thuật, tranh tĩnh vật của một vài đồ vật được quan sát cẩn thận và sắp xếp chắc chắn thường sẽ thú vị hơn một dải tranh vẽ những thứ bóng bẩy nhưng lặp lại một cách vô thức của, ví dụ, một cái ren cổ áo. Trong viết lách, điều này có nghĩa là: nói đúng cái mình nghĩ và nói một cách ngắn gọn thôi.

Có vẻ kì lạ khi tôi nhấn mạnh sự đơn giản. Bạn nghĩ đơn giản sẽ là mặc định. Hào nhoáng là thêm việc. Nhưng có vẻ có cái gì đó ám ảnh con người ta khi họ cố gắng sáng tạo. Các nhà văn mới bắt đầu thường sử dụng một giọng văn mỹ miều mà không giống cách họ nói chuyện bình thường một tí nào. Các nhà thiết kế cố gắng thể hiện tính nghệ thuật hạ mình xuống mức nguệch ngoạc và tô vẽ cong cớn [4]. Các hoạ sĩ phát hiện ra là họ theo chủ nghĩa biểu hiện. Tất cả đều chỉ là né tránh. Dưới tất cả những từ ngữ dài dòng và những đường cọ đầy nét “biểu hiện” , không có gì thực sự xảy ra, và điều này thật đáng sợ.

Khi bạn bị bắt buộc phải đơn giản, bạn bị bắt phải đối mặt với vấn đề thật sự. Khi bạn không thể cung cấp sự tô vẽ, bạn phải cung cấp phẩm chất. [5]

Thiết kế tốt thì bất hủ. Trong toán học, mọi chứng minh là mãi mãi cho đến khi nó có một lỗi sai. Vậy ý Hardy là gì khi nói rằng không có một chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí? Ý ông giống điều mà Kelly Johnson từng nói: nếu có gì đó xấu xí, nó không thể là giải pháp tốt nhất. Phải có một cái gì đó tốt hơn, và cuối cùng thì sẽ có ai đó tìm ra nó.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để đảm bảo bạn tìm được câu trả lời tốt nhất. Nếu bạn có thể tưởng tượng ai đó vượt qua bạn, bạn nên tự làm. Một vài vị bậc thầy giỏi đến mức họ để rất ít chỗ cho những người đi sau sáng tạo thêm. Tất cả những nhà điêu khắc sau Durer phải sống dưới cái bóng của ông.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để tránh ảnh hướng của thời trang. Thời trang theo định nghĩa là phải thay đổi theo thời gian, vì vậy nếu bạn có thể làm cái gì đó mà vẫn tốt trong tương lai lâu dài thì sự hấp dẫn của sản phẩm đó phải đến từ bản chất của nó chứ không phải từ thời trang.

Tương đối kỳ lạ là nếu bạn muốn chế ra cái gì đó mà sẽ hấp dẫn các thế hệ trong tương lai, một cách để triển khai là tìm cách hấp dẫn các thế hệ trong quá khứ. Rất khó để đoán được tương lai sẽ như thế nào, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ giống quá khứ trong việc không quan tâm gì đến những thứ đang là thời thượng. Vì vậy nếu bạn có thể làm gì đó hấp dẫn mọi người của thế hệ này và cũng đã có thể hấp dẫn những người ở thế kỉ 15, có khả năng nó cũng sẽ hấp dẫn những người ở thế kỷ 25.

Thiết kế tốt giải quyết đúng vấn đề. Một chiếc bếp ga điển hình có bốn lò được xếp ở 4 góc của hình vuông, và mỗi lò một tay vặn để chỉnh. Làm sao để sắp xếp các tay vặn? Câu trả lời đơn giản nhất là đặt chúng theo một hàng, nhưng đây là câu trả lời đơn giản cho một câu hỏi sai. Các tay vặn là để cho người dùng, và nếu bạn đặt nó theo một hàng, người dùng không may mắn sẽ phải dừng lại và nghĩ mỗi lần dùng xem tay vặn nào đi với lò nào. Tốt hơn là xếp các tay vặn theo hình vuông theo những cái lò.

Rất nhiều các thiết kế tồi thường khá cần mẫn, nhưng lệch hướng. Vào giữa thế kỷ hai mươi, có một xu hướng để chữ theo phông sans-serif. Các phông chữ này đúng là sát với các dạng chữ thuần khiết và cơ bản nhất. Nhưng trong việc đánh chữ đó không phải là vấn đề bạn muốn giải quyết. Để cho mọi thứ dễ đọc thì việc quan trọng hơn là các chữ cái phải dễ phân biệt với nhau hơn. Có thể nó sẽ hơi bắt chước thời đại Victoria, nhưng một chữ g không viết hoa theo phông Times Roman thì dễ phân biệt hơn một chữ y cùng dạng.

Các vấn đề cũng có thể được cải tiến như với các giải pháp. Trong lập trình, một vấn đề nan giải thường có thể thay thế bằng một vẫn đề khác tương đương nhưng lại dễ giải quyết. Ngành vật lý phát triển nhanh hơn khi các vấn đề trở thành việc dự đoán các hành vi và hiện tượng có thể quan sát được, thay vì tạo kết nối giữa những hiện tượng này với lý thuyết [6].

Thiết kế tốt thì khơi gợi. Các tiểu thuyết của Jane Austen chứa trong chúng gần như không một chút miêu tả nào; thay vì tả cho bạn mọi thứ trông như thế nào, nhà văn kể chuyện tài tình đến mức bạn tự mình hình dung ra cảnh vật. Tương tự, một bức tranh mà khơi gợi thì thường lôi cuốn hơn một bức tranh kể lể. Tất cả mọi người đều tự chế ra các câu chuyện của riêng mình về bức Mona Lisa.

Trong kiến trúc và thiết kế, quy luật này có nghĩa là một toà nhà hay một đồ vật nên để bạn dùng nó theo những cách của riêng bạn: một toà nhà thiết kế tốt chẳng hạn, sẽ là nền tảng cho bất kì kiểu cách sống nào mọi người muốn có, thay vì làm họ sống trong cảm giác phải chạy theo một chương trình được viết sẵn bởi kiến trúc sư.

Trong lập trình, điều này có nghĩa là bạn nên cho những người dùng một vài yếu tố cơ bản để họ có thể kết hợp nếu muốn, giống như Lego. Trong toán học, nó có nghĩa là một chứng mình mà trở thành nền tảng cho rất nhiều các nghiên cứu mới thì hay hơn là một chứng minh mà cực kỳ khó nhưng không dẫn đến các khám phá trong tương lai; trong các ngành khoa học điều này tương đương với việc lượng trích dẫn được coi là một dấu hiệu thô sơ của sự xứng đáng.

Thiết kế tốt thì thường hơi buồn cười. Điều này có thể không đúng lắm. Nhưng điêu khắc của Durer và ghế tử cung của Saarinen và đền Pantheon và mẫu xe gốc cho Porsche 911 đều có vẻ hơi ngộ nghĩnh với tôi. Định lý bất toàn của Godel nghe như một trò đùa trêu ngươi. [7]

Tôi nghĩ bởi vì tính hài hước thì liên quan đến sức mạnh. Để có khiếu hài hước thì ta cũng cần mạnh mẽ: để giữ lập trường và cảm nhận về hài hước thì cần biết giũ đi những điều bất hạnh, và để mất khiếu hài hước thì cần bị tổn thương bởi những điều này. Và vì vậy dấu hiệu—hoặc ít nhất là một quyền lợi—của sức mạnh là việc không quá nghiêm trọng hoá bản thân. Thường thì những người tự tin, giống như những chú chim én, có vẻ như đang chọc ghẹo cả quá trình sáng tạo, giống như Hitchcock hay làm trong phim của ông, hay Bruegel với các bức tranh của mình—hay thậm chí cả Shakespeare, trong trường hợp này.

Thiết kế tốt có thể không cần hài hước, nhưng khó có thể tưởng tượng một cái gì bị gọi là thiếu hài hước mà lại là thiết kế tốt.

Thiết kế tốt thì khó. Nếu bạn quan sát những người đã làm những sản phẩm tuyệt vời, một thứ mà tất cả đều có vẻ có chung là họ đều làm việc cực kỳ chịu khó [8]. Nếu bạn không chịu khó, nhiều khá năng là bạn đang phí hoài thời gian.

Các vấn đề khó đòi hỏi các nỗ lực rất lớn. Trong toán học, các chứng minh khó yêu cầu các lời giải tài tình, và thường những lời giải đó đều khá thú vị. Tương tự với ngành kỹ thuật.

Khi bạn phải leo một quả núi, bạn ném đi tất cả những gì không cần thiết ra khỏi ba lô của mình. Và vì thế một kiến trúc sư phải thiết kế xây dựng trên một khu địa hình phức tạp, và với một nguồn vốn nhỏ, sẽ nhận ra rằng anh ta buộc phải sản xuất ra một thiết kế thanh nhã. Các sự thời trang và hoa hoè bị phủi sang một bên trước sự hiện diện của công việc đầy thách thức: ít nhất là tìm ra được giải pháp cho vấn đề.

Không phải mọi thứ khó khăn đều tốt. Có những cơn đau tốt và những cơn đau xấu. Bạn muốn cái kiểu đau từ việc bạn đi tập chạy, và không phải kiểu đau từ việc dẫm phải đinh. Một vấn đề khó có thể tốt cho một nhà thiết kế, nhưng một khách hàng hay thay đổi yêu cầu hoặc các vật liệu không tin cậy thì không tốt.

Trong mỹ thuật, các tranh vẽ người thường theo truyền thống được vinh danh nhiều nhất. Có một lí do gì đó cho truyền thống này, và không chỉ đơn giản rằng các tranh vẽ mặt người có khả năng kích thích não bộ của chúng ta theo những cách các tranh khác không làm được. Chúng ta giỏi trong việc nhìn nhận các khuôn mặt đến mức chúng ta bắt những người vẽ chúng phải chịu nhiều khó khăn để làm thoả mãn chúng ta. Nếu bạn vẽ một cái cây và bạn thay đổi góc của một cái cành cây khoảng năm độ, sẽ chẳng có ai biết. Khi bạn vẽ mắt của ai đó lệch khoảng năm độ, mọi người sẽ để ý.

Khi các nhà thiết kế Bauhaus bắt trước quy luật của Sullivan, “chức năng trước, hình thức sau” [9], ý họ là hình thức nên đi theo sau tính năng. Và nếu chức năng đủ khó thì hình thức sẽ bị buộc phải đi theo chức năng, vì ta không có thừa sức lực để phát sinh thêm các lỗi sai. Các động vật hoang dã thường đẹp vì chúng sống những cuộc đời khó khăn.

Thiết kế tốt thì trông dễ. Giống như những vận động viên thể thao lớn, các nhà thiết kế vĩ đại làm mọi thứ có vẻ dễ dàng. Phần lớn đây là ảo giác. Giọng văn đơn giản, đầy tính đàm thoại của các viết lách tốt xuất hiện vào lần viết lại thứ tám.

Trong khoa học và kỹ thuật, có những phát hiện vĩ đại mà có vẻ đơn giản đến mức bạn phải tự nhủ, đến mình cũng có thể nghĩ ra chúng. Người khám phá ra những điều này có quyền hỏi ngược lại, tại sao bạn không làm thế?

Một vài tranh vẽ mặt của Leonardo chỉ mất vài nét. Bạn nhìn vào chúng và nghĩ, tất cả cái mình cần làm là vẽ lại được tám đến mười nét ở đúng chỗ của chúng, và bạn đã vẽ xong bức chân dung tuyệt đẹp này. Ừ thì, hẳn vậy, nhưng bạn phải vẽ chúng ở chính xác những chỗ đó. Lỗi sai nhỏ nhất cũng sẽ làm cả bức tranh đổ vỡ.

Vẽ bằng một nét trên thực tế là phương tiện hình ảnh khó học nhất, vì chúng đòi hỏi sự cầu toàn. Nếu dùng các khái niệm toán học, điều này tương đương với một đáp án cụ thể [10]; các hoạ sỹ kém hơn giải quyết cùng vấn đề này bằng cách liên tiếp xấp xỉ. Một trong những lí do trẻ con dừng tập vẽ khoảng năm mười tuổi là vì chúng bắt đầu vẽ như người lớn, và một trong những thứ đầu tiên chúng thử là vẽ bằng một nét. Bụp! [11]

Trong phần lớn các ngành, sự hiện diện của cảm giác dễ dàng thường đi kèm với luyện tập. Có lẽ cái mà luyện tập làm là chuẩn bị tiềm thức của bạn để giải quyết một cách vô thức các công việc mà bình thường yêu cầu bạn phải suy nghĩ ý thức. Trong một số trường hợp, theo đúng nghĩa đen là bạn phải luyện tập cơ thể mình. Một nghệ sĩ dương cầm chuyên nghiệp có thể đánh các nốt nhạc nhanh hơn cả tốc độ não có thể gửi tín hiệu đến tay của anh ta. Tương tự, một hoạ sỹ, sau một thời gian, có thể đưa nhận thức hình ảnh chảy từ mắt xuống bàn tay mình một cách tự động không kém gì một người gõ chân theo nhịp nhạc.

Khi mọi người nói về trạng thái siêu tập trung [12], tôi nghĩ ý họ là mọi thứ đã được tuỷ sống [13] của họ kiểm soát. Tuỷ sống của bạn sẽ bớt ngại ngùng, và nó để dành các suy nghĩ có ý thức cho các vấn đề thực sự khó.

Thiết kế tốt sử dụng đối xứng. Tôi nghĩ rằng đối xứng có thể chỉ là một cách để đạt được sự đơn giản, nhưng nó đủ quan trọng để được nhắc đến riêng. Tạo hoá dùng đối xứng khá nhiều, đây là một dấu hiệu tốt.

Có hai loại đối xứng, sự lặp lại và sự đệ quy (quy nạp). Đệ quy được hiểu là sự lặp lại của các yếu tổ nhỏ hơn bên trong của một vật, ví dụ như các dạng mẫu của những cái gân của một chiếc lá.

Sự đối xứng đang không còn hợp thời trong một số ngành, để phản ứng lại sự thừa thãi đối xứng trong quá khứ ngành đó. Các kiến trúc sư bắt đầu xây các ngôi nhà đối xứng một cách có ý thức vào thời ký Victoria và đến tầm các năm 1920 sự bất đối xứng đã trở thành một tiên đề rõ ràng của kiến trúc hiện đại. Nhưng cả những ngôi nhà này cũng chỉ bất đối xứng ở những trục chính; còn có hàng trăm các đối xứng nhỏ trong thiết kế.

Trong viết văn bạn sẽ tìm thấy sự đối xứng ở mọi cấp độ, từ các cụm từ trong một câu cho đến cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết. Bạn sẽ tìm thấy những thứ tương tự trong âm nhạc và nghệ thuật. Các tranh ghép mosaic (và một vài tranh của Cézanne) thêm ấn tượng hình ảnh bằng cách xây dựng cả bức tranh bằng những hạt cơ bản giống nhau. Đối xứng thành phần [14] đem lại những bức tranh đáng nhớ nhất, đặc biệt là khi hai nửa tranh phản ứng với nhau, ví dụ như tranh Creation of Adam hoặc American Gothic.

Trong toán và kỹ thuật, đặc biệt phép đệ quy là một lợi thế lớn. Các chứng minh quy nạp thường ngắn một cách kì diệu. Trong lập trình, các bài toán có thể giải được bằng đệ quy thường có đệ quy là cách giải tốt nhất. Tháp Eiffel trông thật ấn tượng một phần vì đó là một giải pháp khá đệ quy, một toà tháp trên một toà tháp khác.

Sư nguy hiểm của đối xứng, và đặc biệt là sự lặp lại, là việc nó có thể bị dùng để thay thế cho suy nghĩ.

Thiết kế tốt thì mô phỏng thiên nhiên. Không phải vì có cái gì đó tốt trong bản chất của việc mô phỏng thiên nhiên, mà là vì thiên nhiên đã có rất nhiều thời gian để giải quyết vấn đề của nó. Sẽ là một dấu hiệu tốt khi giải pháp của bạn mô phỏng được thiên nhiên.

Sẽ không phải là ăn gian để bắt chước. Sẽ có ít người phủ nhận rằng một câu chuyện nên giống với quộc đời. Làm việc lấy xuất phát điểm từ cuộc sống là một công cụ quý giá, dù vai trò của nó thường hay bị hiểu lầm. Mục tiêu không phải là để lập kỉ lục hay được ghi nhận. Mục tiêu của việc vẽ lấy cảm hứng từ cuộc sống là việc đó cho tâm trí bạn cái gì đó để nhai tạm: khi mắt bạn đang nhìn cái gì đó, tay bạn sẽ làm những việc thú vị hơn.

Giả mạo tương lai cũng được tính trong ngành kỹ thuật. Có nhiều các thuyền đã lâu nay có cột sống và khung sườn như của một con thú. Ở một vài trường hợp chúng ta cần chờ đợi công nghệ tốt hơn: các nhà thiết kế máy bay đời đầu đã sai lầm khi thiết kế những chiếc máy bay trông giống chim, vì họ không có những vật liệu hoặc nguồn nhiên liệu đủ nhẹ (động cơ của anh em nhà Wright nặng 152 lbs. [15] và tạo ra mỗi 12 mã lực.) hoặc các bảng điều khiển đủ phức tạp cho những cỗ máy bay như chim, nhưng tôi có thể hình dung các máy bay trinh sát có cấu trúc giống chim trong khoảng năm mươi năm tới.

Hiện giờ chúng ta đã có đủ nguồn lực máy tính, chúng ta có thể bắt chước các phương thức của thiên nhiên cũng như kết quả của nó. Các thuật toán di truyền có thể cho chúng ta tạo ra những thứ quá phức tạp để thiết kế theo khái niệm thông thường.

Thiết kế tốt là tái thiết kế. Thật hiếm để làm mọi thứ đúng ngay lần đầu tiên. Các chuyên gia dự định trước là sẽ vứt bỏ một vài sáng chế ban đầu. Họ lên kế hoạch trước cho việc kế hoạch sẽ thay đổi.

Cần tự tin để vứt sang chế đi. Bạn phải có khả năng nghĩ rằng, còn nhiều thứ có thể sinh ra từ nó. Khi mọi người bắt đầu vẽ chẳng hạn, họ thường ngại vẽ lại một vài phần khôg đúng; họ cảm thấy họ đã đủ may mắn khi đi xa được như thế, và nếu họ cố gắng làm lại một cái gì đó, nó sẽ chỉ tệ hơn. Thay vì làm lại họ tự huyễn hoặc rằng bản vẽ không thực sự tệ đến thế–trên thực tế, có khi ý họ là nó phải trông như vậy.

Bất kì cái gì hình thành sự không thoả mãn thường là trong ranh giới nguy hiểm. Các tranh của Leonardo thường có khoảng năm hoặc sáu lần thử để nét vẽ chuẩn xác. Phần sau xe đặc biệt của chiếc Porsche 911 chỉ xuất hiện sau khi tái thiết kế lại một mẫu thử gượng gạo. Trong các bản thiết kế đầu tiên của toà nhà Guggenheim của kiến trúc sư Frank Lloyd Wright, nửa bên phải là một cấu trúc Ziggurat, ông chỉ xoay ngược nó để có hình dạng hiện tại.

Các lỗi lầm là một phần của tự nhiên. Thay vì coi chúng như những thảm hoạ, hãy làm chúng dễ nhận biết và dễ sửa. Leonardo gần như là người đãng sáng tác ra phương pháp vẽ phác, để giúp mỹ thuật mang sức nặng hơn về sự khám phá. Các phần mềm mã mở có ít lỗi hơn vì chúng ghi nhận khả năng có lỗi.

Sẽ rất tốt nếu có một thứ phương tiện giúp sự thay đổi xảy ra dễ dàng. Khi sơn dầu thay thế thuốc màu tempera vào thế kỷ mười lăm, nó giúp các hoạ sĩ xử lí các chủ đề khó hơn như cơ thể người bởi vì, không giống như tempera, sơn dàu có thể được pha loãng và được tô đè lên.

Thiết kế tốt có thể sao chép. Các thái độ với sự sao chép thường thay đổi theo chu kì một vòng. Một người mới học việc bắt chiếc vô ý thức; sau đó anh ta cố gắng một cách ý thức để trở nên độc đáo; cuối cùng anh ta quyết định là việc làm đúng quan trọng hơn là cố gắng độc đáo.

Sao chép vô ý thức gần như là một công thức cho thiết kế xấu. Nếu bạn không biết các ý tưởng của mình đến từ đâu, có lẽ bạn đang bắt chước một kẻ bắt chước khác. Raphael quá là phổ biến vào giữa thế kỷ mười chín để đến mức mà bất kì ai cố gắng vẽ đều đang bắt chước ông ta, thường là qua vài người bắt chước trung gian khác. Chính vì chuyện này, chứ không phải vì các tác phẩm của Raphael, làm bức xúc nhóm Tiền-Raphael [16].

Những người giàu tham vọng không thoả mãn với việc bắt chước. Giai đoạn thứ hai của việc nuôi lớn khiếu thẩm mỹ là một cố gắng ý thức để tạo giá trị mới.

Tôi nghĩ nhưng bậc thầy giỏi nhất vượt qua giai đoạn này để đến một trạng thái quên mình. Họ chỉ muốn có câu trả lời đúng đắn, và nếu một phần của câu trả lời đúng đã được khám phá ra bởi ai đó khác, thì chẳng có lí gì mà không dùng luôn nó. Họ đủ tự tin để lấy từ bất kì ai mà không cảm thấy tầm nhìn của họ bị mất đi trong quá trình này.

Thiết kế tốt thường kỳ lạ. Một vài sáng tạo tuyệt vời nhất thường có tính chất quái dị: Công thức Euler, bức Thợ Săn trong Tuyết của Bruegel, máy bay SR-17, và ngôn ngữ lập trình LISP. Chúng không chỉ đẹp, mà đẹp một cách lạ kỳ.

Tôi không chắc vì sao. Có thể chỉ là sự ngu ngốc của chính tôi. Một cái mở nắp chắc phải là một thứ rất kì diệu đối với một chú chó. Có thể nếu tôi đủ thông minh thì việc e^(i*pi)=-1 sẽ là thứ hiển nhiên nhất trên đời. Dẫu sao thì nó cũng là một sự thật.

Phần lớn những thứ tôi đã nhắc đến đều có thể được hình thành, nhưng tôi không nghĩ ta có thể tự hình thành sự quái dị. Điều tốt nhất bạn có thể làm là không đè bẹp nó khi nó bắt đầu xuất hiện. Einstein không hề cố gắng làm cho thuyết tương đối kỳ lạ. Ông ta cố gắng làm cho nó đúng, và sự đúng đắn ấy cuối cùng trông khá kỳ lạ.

Ở một trường mỹ thuật tôi từng đi học, các sinh viên muốn nhất là hình thành phong cách riêng. Nhưng nếu bạn cố gắng tạo ra những thứ tốt, cuối cùng thì bạn sẽ tạo ra chúng theo một cách rất riêng, giống như cách mỗi người bước chân cũng rất khác nhau. Michaelangelo không cố gắng vẽ giống Michaelangelo. Ông ta chỉ cố gắng vẽ đẹp, và vì thế nên ông không thể cản mình vẽ giống Michaelangelo.

Phong cách đáng có duy nhất là phong cách mà bạn không thể chối bỏ được. Và điều này đặc biệt đúng với sự kỳ lạ. Không có một đường tắt nào để đến với nó. Cái thứ Hành lang Tây Bắc mà nhóm trường phái kiểu cách, nhóm trường phái lãng mạn, và hai thế hệ học sinh cấp ba ở Mỹ bỏ công tìm kiếm dường như không tồn tại. Cách duy nhất để đi đến cái đích này dường như chỉ có đi hết con đường và đi ra ở đầu bên kia.

Thiết kế tốt thường xuất hiện theo từng đợt. Những người sống ở Florence vào thế kỉ mười lăm bao gồm Brunelleschi, Ghiberti, Donatello, Masaccio, Filippo Lippi, Fra Angelico, Verrocchio, Botticelli, Leonardo, và Michaelangelo. Milan thời bấy giờ to ngang ngửa Florence. Bạn có thể kể tên bao nhiêu hoạ sĩ đến từ Milan vào thế kỉ mười lăm?

Có gì đó đã xảy ra ở Florence vào thế kỷ mười lăm. Và nó không phải là vấn đề thừa hưởng gen, vì nó không còn xảy ra nữa. Bạn phải giả định rằng bất kì khă năng bẩm sinh nào Leonardo và Michaelangelo có, sẽ có những người sinh ra ở Milan với những tài năng tương tụ. Chuyện gì đã xảy ra với Leonardo của Milan?

Có khoảng một ngàn lần số người sống ở Hoa Kỳ so với số người sống ở Florence của thế kỷ mười lăm. Một ngàn Leonardo và một ngàn Michaelangelo xống trong xã hội của chúng ta. Nếu ADN thực sự đóng vai trò quan trọng, nhẽ ra chúng ta phải bị king ngạc bởi nhan nhản các tác phẩm nghệ thuật ở mọi nơi. Nhưng sự thật không phải vậy, và lí do là vì để sinh ra một Leonardo bạn cần nhiều hơn khả năng bẩm sinh của anh ta. Bạn cần Florence vào năm 1450.

Chẳng có gì mạnh hơn một cộng đồng những người có nhiều tài năng và cùng nhau làm việc trên những vấn đề liên quan tới nhau. Gen không ảnh hưởng nhiều lắm so với yếu tố này: có gen của Leonardo không đủ đề bù cho việc được sinh ra ở gần Milan thay vì Florence. Hôm nay chúng ta di chuyển nhiều hơn, nhưng các sáng tạo vĩ đại thường chỉ đến từ một vài chỗ nóng đặc biệt: nhà Bauhaus, Dự Án Manhattan, thời báo New Yorker, Skunk Works của hãng Martin Lockheed, Công ty nghiên cứu PARC thuộc Xerox.

Ở bất kỳ một thời điểm nào sẽ có một vài chủ đề nổi cộm và một vài nhóm làm những việc ấn tượng trong những chủ đề này, và bạn sẽ gần như không thể làm được những việc tương tự nếu bạn ở quá xa một trong những trung tâm này. Bạn có thể đưa đẩy các xu hướng này ở một mức độ nào đó, nhưng bạn không thể cắt mình khỏi chúng. (Có thể chỉ bạn mới làm được điều này, nhưng phiên bản Leonardo ở Milan không thể.)

Thiết kế tốt thường liều lĩnh. Ở bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào, mọi người đều đã từng tin vào những thứ siêu ngớ ngẩn, và niềm tin của họ mạnh mẽ đến mức bạn sẽ có nguy cơ bị tẩy chay hoặc bị bạo hành nếu đưa ra những thứ đi ngược với niềm tin này.

Nếu thế hệ của chúng ta mà không còn như vậy thì sẽ thật tuyệt vời. Với những gì tôi biết, điều này không đúng.

Vấn đề này ảnh hưởng không chỉ mọi thời đại, mà còn ở một số mức độ mọi ngành nghề. Phần lớn mỹ thuật thời Renaissance được coi là trần tục một cách đáng kinh ngạc: theo lời Vasari, Botticelli từng hối hận và từ bỏ hội hoạ, và Fra Bartolommeo và Lorenzo di Credi thậm chí còn đốt một vài tác phẩm của họ. Thuyết tương đối của Einstein xúc phạm rất nhiều nhà vật lý cùng thời, và đã không được chấp nhận hoàn toàn đến hàng thập kỷ–đặc biệt ở Pháp, phải đến những năm 1950.

Lỗi thử nghiệm hôm nay là lý thuyết mới của ngày mai. Nếu bạn muốn khám phá ra những thứ vĩ đại mới thì thay vì nhắm mắt với nhưng nơi mà sự thật và lẽ phải thông thường không giao nhau, hãy đặc biệt chú ý đến chúng.

Một vấn đề thực tế, tôi nghĩ dễ tưởng nhìn thấy cái xấu hơn là hình dung cái đẹp. Phần lớn những người đã làm ra những thứ đẹp đẽ thường làm được việc này nhờ chữa một cái gì đó họ cho là xấu xí. Những tuyệt tác thường được hoàn thành vì có ai đó nhìn thấy một cái gì đó và nghĩ Mình có thể làm tốt hơn thế này. Giotto nhìn thấy những hình mẹ Mary theo phong cách Byzantine truyền thống, được vẽ theo một công thức mà đã thoả mãn mọi người hàng trăm năm nhưng với ông thì trông chúng khô cứng và không tự nhiên. Copernicus phiền não vì một “phát minh” mà tất cả những người cùng thời của ông có thể chấp nhận đến mức mà ông cảm giác phải có một lời giải tốt hơn.

Sự không khoan nhượng với cái xấu thì không đủ. Bạn phải hiểu một ngành đủ sâu trước khi bạn hình thành một cái mũi đánh hơi tốt những gì cần sửa đổi. Bạn phải làm bài tập về nhà của riêng mình. Nhưng khi bạn dần trở thành một chuyên gia trong ngành của mình, bạn sẽ bắt đầu nghe thấy những giọng nói nho nhỏ trong đầu mình, Đúng là ăn gian! Phải có một cách gì đó tốt hơn. Đừng kệ những giọng nói này. Nuôi dưỡng chúng. Công thức cho việc làm vĩ đại là: một cái khiếu thẩm mỹ cực kì rõ ràng, cộng thêm khả năng thoả mãn cái khiếu thẩm mỹ ấy.

Ghi Chú

Sullivan thực ra đã nói là “form luôn luôn đi theo function,” nhưng tôi nghĩ sự trích dẫn sai thường thấy thì sát với ý của các kiến trúc sư hiện đại hơn.

Stephen G. Brush, “Vì sao Thuyết Tương Đối được Chấp Nhận?” Báo Vật Lý trong Quan Điểm 1 (1999) 184-214

***

Ghi Chú từ người dịch:

[0] Taste: mình băn khoăn rất nhiều khi chọn từ thay thế cho taste, đây là từ cuối cùng được dịch ra. Dường như không có gì trong tiếng Việt thay thế được sự tối giản và móc nối với các lớp nghĩa khác của cùng từ Taste này. Taste là nếm thử, nếm trải, nhưng cũng là sở thích và thị hiếu- và khi đọc từ taste thì mình luôn luôn ám ảnh hơn về cảm giác nghĩa này; dường như thực sự có một cái ý nghĩa hay khái niệm gì đó mà nằm tách biệt hẳn khỏi ngôn ngữ mô tả chúng. Mình chọn “khiếu thẩm mỹ” qua rất nhiều cân nhắc, nhưng cụm này thì tránh gây hiểu lầm nhất.

[1] nhắc nhở rằng taste vẫn là một từ ngắn gọn

[2] đây có lẽ là sự lệch lạc về màu nghĩa đầu tiên cho từ taste và cụm “khiếu thẩm mỹ”

[3] vẫn là taste

[4] swooshes & curlicues

[5] substance

[6] Dịch scripture là lý thuyết, vì tác giả sử dụng liên hệ tôn giáo: một lý thuyết đã quá vững vàng và được chấp nhận gần như Kinh Thánh.

[7] practical joke

[8] work hard dịch là lviec chăm chỉ dường như không sát nghĩa cho lắm

[9] form follows function, dùng cấu trúc câu này để làm rõ tính tối giản của câu gốc, để so sánh với ý sau, là form should follow function

[10] closed-form solution, chứ không phải các lời giải mang tính ước lượng. Hãy nghĩ việc giải một phương trình vi phân tuyến tính bậc nhất bằng cách tìm thừa số tích phân và tìm ra phương trình đích xác và thay số, so với sử dụng Phương Pháp Euler để ra một xấp xỉ số gần sát chẳng hạn.

[11] Smack!

[12] being in the zone

[13] Hiểu nôm na: Mọi thứ được tự động hoá bởi các dây thần kinh, không cần nghĩ nhiều để làm được việc.

[14] compositional symmetry

[15] ~ 69 kg

[16] Pre-Raphaelites

Advertisements

Author: oligothoughts

poetic hermit

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s