5

IFHTP


Leave a comment

zen: những màu sắc #1

Follow up bài zen, mình sẽ chia sẻ quá trình va chạm với thiền của mình.

Bài viết này nằm trong thư mục draft trên wordpress có lẽ cũng gần nửa năm rồi, nhưng mình chưa bao giờ cảm thấy đủ sức để viết hết nó. Mình cũng có cảm giác khi mình viết xong bài này thì hành trình của mình sẽ sang một trang mới–liệu có phải vì vậy nên mình còn chần chừ?

1.Những thí nghiệm đầu tiên

Vào khoảng vài năm trước, mình được giới thiệu với Spirit Science. Ngoài một bộ phim dài có mùi thuyết âm mưu, nó cũng đi qua một dải các trò tâm linh mà các bạn phương Tây vẫn làm. Tuy không xem hết channel (nổi) nhưng mình cũng đã bắt đầu dần dần có hứng thú với các khái niệm và mường tượng–trong đó đã xem và làm theo các chỉ dẫn về thiền trong cái clip này. Sau này, về cơ bản, lúc nào rảnh mình ngồi khoảng 10 phút, và bắt đầu bằng việc thở và scan các cảm nhận trên cơ thể, sau đó bắt đầu vừa thở vừa đếm từ 1 đến 100.

Kết quả? Có khoảng vài lần, mình có thấy tức tức ở trán. Một lần khác, mình thấy một cảm giác thỉnh thoảng hồi bé ngủ dậy hay có, là lờ mờ thấy một phần nào đó của cơ thể mình teo nhỏ lại, hoặc phóng to ra, dù thực sự nó không phải như thế. Ấn tượng nhất là một buổi ngồi đếm đến 100, và chợt thấy cảnh một cảnh đồng lúa xanh, và cảm giác sự hiện diện của một chiếc bánh xe gỗ.

2.Vipassana

Mình đi thiền Vipassana vào cuối năm 2014, ở rìa của Wisconsin giáp với Minnesota, mùa đông co ro và tuyết phủ, qua giới thiệu của bạn.

Đây là một khoá thiền 10 ngày, mỗi ngày thiền tổng cộng 10 tiếng, và ngoài ăn uống ngủ nghỉ bình thường thì các học viên không được nói chuyện với những học viên khác, và không dùng điện thoại hay máy tính để liên lạc với thế giới bên ngoài trong suốt thời gian học. Mỗi buổi tối sẽ có một bài học mới, bài giảng là ghi lại của người sáng lập ra khoá học thiền này, thiền sư Goenka. Bác Goenka này không phải sư tu trong chùa, nghề chính của bác là kinh doanh. Khoá thiền có các trung tâm trên khắp thế giới, không liên quan đến chùa chiền, và không mất xu nào để đăng kí (dù nó được chạy trên donation, học xong thì tuỳ tâm). Thiền vipassana là một kiểu thiền quán, vì quan sát các cảm nhận trên và trong cơ thể. Trước khi đi vào vipassana, các học viên tập anapana, là quan sát một phần nhỏ hơn của cơ thể trước, trong vài ngày.

Kết quả: Đây là trải nghiệm sâu nhất trong khoảng 2 năm đồ về trước sự kiện. Đặc biệt, vào ngày thứ 4 và thứ 6 của khoá học, mình đều nằm mơ, và đến mức tỉnh dậy giữa đêm và thấy nước mắt tuôn trào. Có lẽ vì mùa hè năm ấy nhà mình có một người mất. Bản thân việc học cũng rất thú vị, mỗi ngày mình lại học cách trụ vững trong mình, bằng cách quan sát từng cơn đau và các ham muốn thay đổi tư thế từ việc ngồi hàng giờ. Từng chút một, mình đi đến các đột phá mới. Cuối khoá, mình vẫn nghĩ là mình đi học dở lắm, nhưng nhiều người ngồi gần mình thì có khen là sao mà ngồi tốt thế, tập trung vậy, etc.

(Thực ra hỏi vậy thì cũng hơi kỳ, vì nhẽ ra mọi người nên tập trung vào mình. Dĩ nhiên, chính mình cũng không hoàn toàn tập trung đến vậy: đong đưa giữa những giờ vật vã cố gắng tập trung và ngủ nghê ăn uống và suy nghĩ lan man là những tâm tư hướng đến một người)

Cái hay nhất của khoá học là mình nhận ra có cả một thế giới mình chưa khám phá, và nó nằm ngay trên cơ thể mình-chẳng cần đọc sách, chẳng cần ngồi học, giờ rảnh hay bí cũng có thể ngồi một mình, nhắm mắt lại, và quan sát cơ thể, và nhận ra những chi tiết nhỏ nhất. Như một sử gia nổi tiếng có nói về việc thiền–bản thân ông này đã đi những khoá Vipassana kéo dài 60 ngày:

This is the most amazing thing that I’ve ever observed, is really to observe these internal phenomena.

Điều tuyệt vời nhất tôi đã từng quan sát, là thực sự quan sát những gì xảy ra ở bên trong.

Ngoài ra, nó cũng cho mình nhìn thấy một bộ mặt khác của nước Mỹ: của những con người bị stress và tò mò và đau khổ với các sự kiện cuộc đời. Mình được gặp một ông cựu binh Mỹ lái máy bay Air Force ở Afghan–vị này có những thời gian dài gặp ác mộng, và suy sụp tinh thần, một người đàn ông trung niên có bằng PhD vật lý và đi làm quant ở Chicago–ông mệt mỏi uể oải bất định và đi theo giới thiệu của một người bạn, vài người gốc Ấn Độ lưu lạc từ quê nhà, một người trợ giảng thiền gốc Hoa sinh ra ở Myanmar đã nhiều năm đi chu du khắp thế giới làm những nghề dọn dẹp, rửa bát, nấu bếp, một cậu sinh viên Mỹ da trắng, cậu này đổi ngành liên tùng tục từ tâm lý học sang vật lý, học tiếng Trung, và tối ngủ nằm mơ thấy đức Dalai Lama bị thiêu cháy, một anh nhạc sĩ lang thang khắp nước Mỹ trên chiếc xe van–anh đi những khoá Vipassana này đều đặn 10 năm nay, từ lúc mới ngoài 20. Lọ mọ đường đến thiền viện này là một chuyến xe từ Minneapolis, đi ké một chị người Mỹ làm quảng cáo và kickboxing bán chuyên nghiệp.  Ở đây, có những người mình khó mà gặp nếu chỉ mài đít ở trong trường đại học, chưa nói gì đến một trường đại học trong bạt ngàn đồng ngô ở giữa bang Illinois. Và, theo một cách nào đó, khái niệm sangha lởn vởn trong đầu mình khi nghĩ đến điều này: rằng sự chia sẻ sâu sắc giữa người với người, đôi khi chỉ nằm trong việc ngồi với nhau, im lặng, trong cùng một không gian.

Trên radio bật nhạc Hozier, cũng là lần đầu tiên nghe Hozier hát. Mình bủn rủn. Cô bạn người Việt đi cùng đang ngủ đằng sau xe cũng phải dậy và ngớ ra, sao nhạc hay thế.

Về cơ bản, học thiền Vipassana là trải nghiệm sâu sắc đầu tiên về thiền của mình. Có lẽ nó cũng góp phần không nhỏ vào việc phát triển các sự nhạy cảm tinh tế và sự vững chãi của mình, trong cuộc sống hay trong các khám phá sau này. Tuy chưa theo tiếp một khoá vipassana nào sau này, nhiều lúc trong suốt những ngày tháng tiếp theo mình vẫn quay lại kỹ thuật này để trụ vững giữa đời thường.

3. Tiếp tục tìm hiểu

Sau khoá thiền, mình đú đởn: mua gối ngồi thiền (toạ cụ), và mỗi ngày cố gắng ngồi vipassana khoảng một tiếng (Sự thật: cháu không theo được cái lịch này, và bên cạnh đó vẫn vướng bận và vât lộn với rất nhiều chuyện cá nhân.)

Thời gian này mình bắt đầu đọc những thứ khác liên quan đến việc thiền: The Tibetan Book of Living and Dying của bác Rinpoche, một quyển khá phổ biến ở Mẽo, và Đạo Đức Kinh (và sau đó là Nam Hoa Kinh)–bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần. Sau này gần như bác Cần có chủ đề gì là mình đọc quyển đó của bác. Ngoài ra còn ngó nghiêng sang Zen và các bộ công án, nhưng chưa thấy hữu dụng lắm. Chỉ là, lúc này mình đã có mù mờ va chạm với các khái niệm thách thức giới hạn của ngôn ngữ, và chính xác hơn là việc gọi tên các khái niệm để mô tả thế giới. Tuy phảng phất ở đâu đó mối dây liên hệ với cái hang Plato mình va vào từ thời nào, mình nghĩ lúc ấy mình vẫn chưa tích hợp được những nhìn nhận này vào cuộc sống, mà chỉ dừng ở mức làm người quan sát chúng.

Thời gian này, mình được “làm sạch” về quan niệm về thiền và kiến thức. Có một cái gì đó vững vàng hơn, nhưng mình cũng cảm thấy “cạn”–không còn hứng thú với việc đọc một số thể loại sách mà mình vẫn hay thích, hoặc là tò mò nhiều về những thứ truyện tâm linh hay thiền cao siêu nữa.

4. Hươngclass và Timeline Healing

Đột phá đầu tiên bắt đầu từ việc… thất tình. Chính lúc thất tình này cũng là lúc mình được biết về thiền tiền kiếp, qua cái truyện tình viết trên Facebook của Phan Ý Ly về chuyện chị và một anh người yêu, rằng nhiều sự kiện và dấu hiệu trong đời này của chị khớp khá nhiều với những tính cách của chị và anh người yêu trong cả kiếp trước. Truyện tiền kiếp đọc như thể một câu chuyện trời định, đọc xong tưởng 2 người sẽ sống với nhau đến cuối đời này. (Họ không còn với nhau nữa). Nhưng lúc đó, câu chuyện này cùng với chuyện cá nhân mình làm mình tò mò khá nhiều.

Hẹn gặp Hươngclass mùa hè năm 2015 để làm một buổi thiền cá nhân, mình được dẫn vào 2 tiền kiếp đầu tiên. Có thể đọc những bài ghi chép lại của những buổi thiền này ở trang này, đọc từ dưới lên, và có lẽ đọc phần giới thiệu trước. Chị Hương nói mình viết lại các vấn đề của bản thân, rồi sẽ làm một buổi timeline từ bài viết đó-cũng được post lên blog. Ngồi với chị từ 9h sáng đến 12h trưa, sau đó mình không hiểu sao đã rất đói, gần như ở mức kiệt quệ, và sau khi ăn một suất steak to tổ chảng thì mình đã ngủ li bì từ lúc về nhà đến 9h tối. Nhưng cũng cần chú thích là thời gian này mình bắt đầu thực sự kiệt quệ, không thiết làm gì, học gì, đọc gì, và lúc có sức lực thì chỉ muốn lao ra đường và phá hoại bản thân.

Có một vấn đề mình cần nói qua ở đây, cũng là câu hỏi của nhiều người với cái trò thiền này: rằng có khả năng mọi thứ là tưởng tượng ra không? Sau một thời gian dài tham gia vào những thứ này, mình nói luôn: chắc chắn là có. Nhưng vấn đề không đơn giản như thế: hãy thử đi sâu hơn, cái gì là sự thật, cái gì là giả dối? Liệu có phải cứ phải khoa học là đúng không? Khi mà nhan nhản những lý thuyết với cái mác khoa học (xã hội) xâm lấn tư tưởng các nhóm người thời đại này, liệu một chút nhầm lẫn từ tưởng tượng có thực sự là vấn đề? Người ta gặm nhấm Facebook những tay học tiến sĩ của đủ các ngành: quan hệ quốc tế, Hán-Nôm học, lịch sử-nhân học, nhưng những cơ sở về nhận thức, về phân biệt đúng sai, về khoa học luận, về các giới hạn của ngôn ngữ thì gần như chẳng ai rõ ràng. Tất cả nhận thức chung từ những sự public intellectual này là một thứ gì đó mong manh dễ vỡ, bởi vì nó pha trộn giữa cảm xúc nhất thời, sự thiếu hiểu biết, văn hoá đại trà, chính trị trà đá, và những bứt rứt trong cuộc sống hiện đại.

Chưa hết, khi ta gọi một cái gì đó là “tưởng tượng”, ta đang phân biệt cái đối tượng đó là một cái gì đó khác với sự thật. Nhưng cái gì là sự thật? Và nguồn gốc của tưởng tượng đó bắt đầu từ đâu? Khi mình nói với một ai đó: hãy nghĩ đến hình ảnh một cái cầu thang, có người sẽ nghĩ đến một cái thang gỗ, có người nghĩ đến thang đá, hoặc nhập nhằng giữa các loại hổ lốn hình ảnh và ý tưởng. Phải rồi, mọi thứ đều là tưởng tượng, nhưng chẳng phải sự chi tiết của mỗi hình ảnh đó chính là những điểm bất biến quan trọng và có ý nghĩa với mỗi người? Giống như với các cấu trúc xã hội, những kiến thức lừa lọc, những sự giả-khoa học, những quảng cáo, băng rôn khẩu hiệu, những hô hào chính trị của tất cả các loại nhóm, những tôn giáo độc đoán chỉ-mình-đúng, những tiểu thuyết dài hơi của những nhà văn giải này giải nọ, trí tưởng tượng của con người phản ánh một sự thật nào đó qua những thứ không-thật.

Cogito ergo sum, hiểu sâu hơn theo mình là: chớ vội chối bỏ những thứ mình cảm nhận ra là sai, mà hãy đào sâu và hiểu tại sao chúng có ở đó đã.

Mà, không phải cái gì cũng là ảo. Ấn tượng nhất trong thời gian này là chuyện khi mình cảm thấy mình nhìn thấy một thứ trong trạng thái thiền ấy, thì chị Hương cũng nhìn thấy cái thứ đó, và tả được nó ra. Sau này, mình cũng vô số lần làm được việc như vậy với những người khác. Trong khoảng thời gian này, mình bắt đầu có cảm giác về cuộc sống là một cái gì đó cần khám phá và nhiều điều kì diệu sẵn sàng chờ đón. Mình cảm thấy được gắn bó với mọi thứ.

À, mà cảnh đồng xanh và bánh xe gỗ được nhắc đến ở đầu bài viết chính là cảnh đầu tiên mình nhìn thấy khi được “dẫn” vào cái “tiền kiếp” mùa hè ấy.

Chị Hương lúc đó cũng nói mình có năng khiếu, có thể học trở thành healer được nếu thực sự muốn. Cuối cùng, mình nhận ra là mình không muốn. Không sao, chị Hương, mặc cho các loại khái niệm về sứ mệnh chị có thể nhắc đến với học viên, thì vẫn là một con người. Và con người phải làm và có những thứ đời thường, và mình thấy những điều đó rất bình thường. Rất nhiều xích mích và thất vọng với Hươngclass, thực ra bắt nguồn từ một sự kì vọng về cứu rỗi thần thánh nào đó của cô giáo. Trong khuôn khổ con người, có cha có mẹ, có một cái giờ sinh để phăng ra một cái lá số nào đó, cô giáo cũng ngây thơ vô số tội như các học sinh của cô, và có gì đáng buồn ở đó đâu nhỉ? Sự con người làm mình thấy đi học thiền là một thứ không ma mị, không đánh đồng, không phân biệt, và có gì đó gần gũi, dễ hiểu, dễ chịu là đằng khác. Dẫu sao, so với nhiều thứ phong trào tâm linh mình được tiếp xúc sau này, cộng đồng Hươngclass cho mình một khoảng thời gian học được nhiều thứ rộng và sâu về mặt kiến thức nhất–nhưng mình sẽ nói thêm về một số vấn đề ở phần sau.

Học hết khoá thì phải biết đường mà lên lớp, phỏng ạ?

(Còn Tiếp)

Advertisements


2 Comments

blueprint: Reading

Consider books as a way to expand consciousness, then we have non-discrimination reading: read things you hate, read things you don’t like, read things you have no feeling toward, read things out of boredom, read things in exact opposite to your inclinations and excitements, or just don’t read: watch films, talk to people, these are no different.

Umberto Eco: books should be an open field of ideas- but let’s take this idea further. Don’t just read the text, feel for the persons, recall the birthdays of the authors, see the characters, search for perks, acknowledge the nods to things outside of the book.

you may: read a book linearly, but never grasp at the meaning linearly

you may: construct flows, plot, journeys, hidden messages, recast things as symbols and metaphors and devices, but never let these deter you from the joy of connection and intertextuality

you may: read extremely fast, even leaving behind a handful of words, and remember nothing, but never not interact with the authors

A book is a gateway, open them, enter them, do not get lost, or get lost infinitely.

You yourself are a book writing itself, so do not fear the completed texts, do not let them overwhelm or strangle you.

There is no unreadable book, just unreadable times, spaces, realities.

When you read something, there are many voices in your head. Sometimes the highest voice can be hard to discern, for it is so faint, and you are so devoid of energy. At times like these you are free to read a book in any way you want.

There is no need to feel guilt in discontinuing a book. In fact, you do it every moment, for books are just pages to a larger reality that you are constantly reading and reflecting on.

There is no need to push yourself to read something, especially because of the lower voices. Embrace all the voices, but it usually happens that the higher voice gets lost, and you keep losing time.

It is possible to read a book without understanding the language. Just use all of your eight senses.

Some books are so energetic that you can feel your forehead, the tip of your brain bursting out with light to receive these messages.

Business self-help books take effort to read, because profiteering, or the whole deal with business, is a manifestation of karma. The free market is an infinite play of fixed causalities. This is karmic causality, cause and effect. Cause and effect applies mostly to the lower planes of thought.

Mathematical textbooks are just as excellent as poetry anthologies: one does not take the ideas at face value (as if there was, and should be), but one learns, from these ideas and inclinations and goes out to disassemble and reconstruct worlds and world views altogether. A poetry anthology is as interactive as a book of problem sets -if one allows the interaction to happen. (of course, the stuff of thought are different).


Leave a comment

Conversations on Living #5

B: tôi nghĩ là
vụ gmo
trong khi thế giới mải chia phe cãi nhau thì
những thằng có tiền vẫn ném kít vào đất đai môi trường
tôi ko subscribe to cái sự xa xỉ ngồi sợ hãi GMO hay cãi nhau với những phong trào, vì groupthink bao giờ chả nhại lại vài thứ và ko đi sâu
muốn hiểu GMO thì ăn thử GMO sống thử trên đất GMO thôi, còn phải dựa vào khoa học để lý luận thì có kết quả đúng vẫn chẳng hiểu cái gì cả
at the same time
chẳng có ai ăn sạch
sống sạch
nghĩ sạch
vận động mãi cũng thế thoai
muốn cứu đất thì đi trồng cây, lobby tử tế
và hoàn thiện bản thân
thực ra vấn đề của GMO đâu phải là GMO
vấn đề của GMO là moral hazard
GMO chỉ là một cái ô dù để lôi ra choảng nhau
vấn đề chính là conventional farming needs to end
new solutions need to be developed

C: Những ng tôi biết mà against GMO

Lý do chính của họ thực ra là monsanto

B: if they only fear monsanto
then they are only at the tail of something bigger
tôi chỉ against vì
uống coca mỹ không ngon
ăn chuối mỹ nhạt thếch
felt sickened all the time
chống monsanto xong thì sẽ có tất cả những thể loại liên quan đến thức ăn ở mỹ
rồi hoá chất thì sẽ ùn ra thêm một đống nữa
sao ko chống cả dầu hoả đê
chống khai thác khoáng sản đê
bây giờ thì cái against của tôi thành một cái creative disposition roài
vì đã được học một chút về alternative farming
C: lol đoạn zầu hoả ông nói zống bạn tôi
cái tôi thấy đáng lo
là người ta chỉ đang quan tâm chuyện mua đồ ăn sạch
ko phải nuôi trồng đồ ăn sạch
tức là vẫn là consumerism approach
B: việc nuôi trồng cũng là cả một mảng kiến thức dài hơi
phổ cập hơi khó
demo thì ít
nói chung nó cũng dễ hiểu mà
C: có lẽ vì thiếu incentives? vì nói thẳng ra mọi người ăn sạch vì sợ chết bệnh
B: cái việc tiêu thụ này
là ride on một cái sợ hãi có sẵn
mọi người cứ bứt rứt với xã hội
rồi ăn uống tiêu dùng độc hại
nên cái frame of reference chỉ có thế
C: còn sustainable farming is a means to an end
B: its more than that
if done right
it should revolutionize the way societies organize
C: tiếp đi?
B: solution không phải là không có
nhưng nó đang là partial solution
developed by hermits and crazy people
ví dụ cuộc cách mạng một cọng rơm là một ông crazy person đẻ ra
real organic farming is not just denial of chemicals, it has to be a method in itself
nhưng method-wise
hơ hơ
nếu survey những cái phong trào/ nhóm thành công nhất
đều weirdly có yếu tố khá spiritual
bản thân ông Fukuoka cũng adopt thái độ khá zen với trồng cây
cũng đúng thôi, vì nếu chỉ cứng nhắc khoa học hoá mọi thứ thì ko có động lực để thay đổi
những thứ phá hoại đều chỉ được nhận ra in retrospect, mà lúc đó đã có hẳn một bộ máy, một vòng quay đẻ ra tiền rồi
nhóm biodynamic (có thể nói là một phương pháp hoàn chỉnh và tạo ra sản phẩm hữu cơ vượt trội) thì hoàn toàn spiritual
có đụng đến vi lượng đồng căn và những thứ kiểu dùng chiêm tinh để chọn ngày ủ phân
và… được đẻ ra bởi một ông psychic
Rudolf Steiner
vườn cây Findhorn khá hơn chút, ở chỗ kết hợp khoa học và cầu nguyện và nói chuyện với cây và vài thứ khác, và có quả trồng rau trên cồn cát
nhưng túm lại là nó yêu cầu dịch chuyển cả suy nghĩ về những vấn đề khác
về cấu trúc xã hội, về phong cách sống
tiên chỉ của biodynamic là, cái gì đi ra khỏi đất thì phải quay lại đất
tức là khi trồng một cái vườn biodynamic thì vườn đó phải càng biệt lập với những thứ xung quanh càng tốt
vì nó là một cái vòng quay
hơi hơi fancy way of recalling vườn ao chuồng =))
ơ nhưng còn một cái khác là, đến việc khuấy nước cũng có khía cạnh cầu nguyện
ụ phân bón thì được làm từ những thứ trong vườn, và được coi như một thực thể sống sau khi làm xong
kiểu thấy cóc nhái nhảy vô chơi
cái cốt lõi là, well, cảm giác rất communal
và đương nhiên là vườn bé, và đa canh các loại rau quả cây cối để nó có khả năng phòng vệ tự nhiên với côn trùng và các thứ khác
in a sense, it is building a world
cái discourse trong GMO và agriculture
tôi thấy ngốc nghếch vì nó cũng quá lệch
người thực sự đọc mấy thứ này và hiểu chuyện thì ko dám khoe thân vì toàn những thứ nhập nhằng
còn người nói nhiều thì lại toàn hoặc là sợ ăn đồ độc hại và consumerist, hoặc là lý trí nhưng adua
C: in that science non-gmo users are merely driven by fear
 B: naughty pun


Leave a comment

scramble, grumble, ramble

everyday i try 

to fall in

 love with rocks, 

sand, pieces of flesh

the moving furballs that deserve loving

yet hollow is in me, you are in

outside my time, you are in

it is not you I hate, the spaces between us

your friends 

told me to move on, deny, keep going

they don’t 

understand and it pains me  

much because there is always 

a thread, everlasting that if 

you bre-ak, deny, hide from sght

it grows like ripples on your thoughts

it pains me not because you are 

outside my realm it 

pains me as you are 

in here, and yet refuse 

to brace our connection 

entirely, and brace for us

all we need is being in our being 


Leave a comment

Chào 2017

Năm mới thực sự bắt đầu vào bây giờ. Những người ngủ 2 năm nay bắt đầu chập chững. Tôi thấy những tâm hồn lặng thầm đứng dậy, và lục tục với chữ nghĩa, các cộng đồng, hoặc một vùng đất mới.

Hôm nay tôi nằm mơ thấy đám trẻ tôi gặp hồi cấp 3 đang sống cùng thành phố với tôi-tìm-tòi. Tôi không muốn gọi giấc mơ này là ác mộng–chưa có một giấc mơ nào đánh thức tôi dậy, chỉ có tôi đánh thức giấc mơ. Tôi không thích những giấc mơ cho lắm, vì chúng nhạt nhoà giữa những sợ hãi thầm kín và những sự thật lớn hơn. Tôi hiểu những giấc mơ, và tôi chấp nhận sự không hiểu những phần thầm kín và sự quên lãng của giấc mơ.

Và dẫu sao, giấc mơ là minh chứng duy nhất về sự thật cho những người còn ngủ mơ trong cơn thức. cơm. áo. gạo. tiền.

Nhưng ước gì tôi có thể chỉ cần nhắm mắt và hỏi, để biết mình cần gì, thay vì phải nằm mơ. Phải, tôi có thể thiền và nhìn thấy những thế giới khác, những thời gian khác, những hình thù khác. Không phải, tôi không tin vào việc thiền này. Thật ra, tôi ngờ ngợ rằng việc mình ngồi thiền cũng không hoàn toàn nằm trong chi phối của mình, rằng việc tôi chọn làm gì trong cơn-thức này cũng giống việc tôi chọn làm gì trong cơn-mê kia mà thôi–những vệt sáng mù mờ, và những va đập giữa ham muốn, sợ hãi, và sự thật, và bóng tối trong lòng ánh sáng.

Hôm nọ tôi ngồi xem qua phim tài liệu về Scientology. Sau khi tự lải nhải với bản thân về việc các tôn giáo kiểu này thật đáng sợ, và có lẽ một ngày nào đó mình cần viết một thứ lột trần nào đó… tôi ngờ ngợ nghĩ về những thứ gần-tôn giáo mà mình đã làm gần hai năm qua. Một sự thay đổi lớn sắp kết thúc, những cơn sóng va đập vào nhau, và tôi đã có những thứ mình muốn.

Có lẽ, để làm con người trong cái thế giới con-người mù mờ này, sự đúng đắn phải đi đôi với sai lầm, tự lừa lọc. Sự thật ôm trọn ảo giác trong lòng. Toán học đã từng là lựa chọn cả về mặt tinh thần cho tôi: trong thế giới của những chứng minh sắc bén, tôi không phải sống với phần ảo giác, phần tối. Tôi nào biết những người làm toán cũng là con người. Tôi nào biết từ những viên gạch khởi điểm cho đến cái khám phá để đời, người ta phải va vấp vào bao nhiêu là góc tối.

Những đứa trẻ giỏi giang vụt qua tôi, đi tiếp. Tôi tìm thấy vài lối mòn con con, và những bụi gai che chúng đi. Tôi để cho gai chọc vào người. Sau mỗi lần như vậy, tôi thức dậy, nghẹn lời, nghẹn chữ, nghẹn suy nghĩ. Tôi không biết đã có bao nhiêu thứ hàng rào thẳng thớm tôi đã đập nát, đề tìm thấy những bụi gai này. Nhìn những cô cậu chạy vun vút trên những đường thẳng tăm tắp, tôi thấy mừng cho đường thẳng tăm tắp được làm việc của chúng.

Nhưng thế giới này là một thứ tạm bợ, những đường thẳng che đi đám cỏ đám cây, và rằng tôi và bạn cũng là một phần với cây và cỏ.

Đôi khi

Hừ, quên mất rồi.

Từ cái hồi cơ thể này còn nhỏ bé đến tận bây giờ, trước khi đi ngủ tôi hay tưởng tượng mình trong một thế giới khác. Tôi sẽ là một gã lang thang cô độc nào đó, thường rất là ngầu, thường biết một thứ võ nghệ nào đó, và thường có một cái vũ khí gì đó. Nhưng tôi không bao giờ vào được một câu chuyện gì cả–chỉ là những quán rượu, những con đường, những vật cản, những cái di chuyển vun vút. Tôi nghĩ tôi [ôi, có một cái thật sự gọi là tôi sao?!] chỉ thích sự dịch chuyển và va đập. Tôi từng ngồi một lớp tập viết truyện, tôi chật vật thảm hại để ra một cái gì đó giống truyện. Thơ thật đơn giản, dù tôi không biết cái sự ồ ạt suy nghĩ của mình có đáng để cân với những cân nhắc tinh tế của những người viết thơ khác. Đôi khi, tôi ngại ngùng. Cả đời tôi, ngại ngùng. Trong cơn mơ, tôi tự do.

Một ham muốn thời còn học cấp 3 của tôi là được làm một con ma. Nhưng lúc ấy tôi không hiểu thế nào là ma, tôi cứ nghĩ một con ma sẽ tự do bay nhảy và chu du khắp thế giới, và không bị ảnh hưởng bởi cái gì, và không ảnh hưởng lên cái gì. Tôi nhầm, những con ma còn trên hạ giới này chẳng vui vẻ gì: chúng trói mình trong một thứ suy nghĩ nào đó, và cả thế giới nội tâm của một con ma là một cái nhà tù. Sự ghê sợ của những con ma trong phim kinh dị cũng có cái khôi hài rập khuôn của nó: tất cả đều ám ảnh với một vài thứ suy nghĩ gì đó, và lặp đi lặp lại chúng. Bạn tưởng rằng vô biên và thông minh như một con ma phải có đời sống tinh thần thú vị hơn chứ.

Tôi không muốn chạy trốn sự cân bằng này nữa. Năm 2017, tôi muốn làm con người.

bo


Leave a comment

Dịch: A Taste for Makers – Paul Graham

I spent the first months of this 2017 reading all of Paul Graham’s essays, and needless to say the experience changed me–for better or worse. Since I’ve been translating quite the self-help mix, I thought I’d also add this, as tribute, and as another fun thing to do. Translating this huge thing got me to interact with the essay on a much deeper (and perhaps more minute/trivial) level.

Taste for Makers – PG

________________________________________________________________

Khiếu thẩm mỹ[0] cho những nhà sáng chế – Paul Graham

Tháng 2 năm 2002

“Các chống đối về thẩm mỹ của Copernicus liên quan đến [các điểm tâm sai] đã cung cấp động cơ thiết yếu cho việc bác bỏ hệ thổng Ptolemy của ông…”

– Thomas Kuhn, Cuộc Cách Mạng của Copernicus

“Tất cả chúng tôi đã được huẩn luyện bởi Kelly Johnson và tin tưởng một cách cuồng tín vào đòi hỏi khăng khăng của anh ấy rằng một cái máy bay mà trông đẹp thì sẽ bay đẹp tương tự.”

-Ben Rich, Skunk Works

“Tính đẹp là bài kiểm tra dầu tiên: không có chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí.”

-G.H. Hardy, Lời Xin Lỗi của một Nhà Toán Học

Tôi vừa nói chuyện với một anh bạn giáo sư ở MIT. Ngành của anh ta đang lên và hằng năm anh bị ngập trong các hồ sơ apply của các nghiên cứu sinh tiềm năng. “Phần lớn đám này đều có vẻ thông minh,” anh bình luận. “Cái mà tôi không thể chắc chắn là nếu họ có chút khiếu thẩm mỹ gì không.”

Khiếu thẩm mỹ. Bạn không hay nghe về từ [1] này. Vậy mà chúng ta luôn cần cái khái niệm đứng sau nó, dù ta có gọi đó là gì đi nữa. Ý anh bạn tôi là anh muốn các sinh viên vừa giỏi về mảng kỹ thuật, nhưng đồng thời cũng có thể dùng kiến thức kỹ thuật ấy để thiết kế những thứ thật đẹp.

Các nhà toán học gọi các công trình nghiên cứu tốt là “đẹp,” và dĩ nhiên, dù bây giờ hoặc trong quá khứ, điều này cũng đúng với các nhà khoa học, các kỹ sư, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, nhà văn, và các hoạ sĩ. Liệu đây có phải là một sự trùng hợp khi tất cả mọi người dùng cùng một từ, hay là có một cái gì đó thực sự chung giữa ý của mỗi nhóm? Nếu thực sự có một cái gì đó tương đồng, liệu chúng ta có thể dùng các khám phá trong một ngành để hỗ trợ một ngành khác?

Với những người có thiết kế các sản phẩm, đây không phải là những câu hỏi lý thuyết. Nếu thực sự có một cái gì đó là cái đẹp, chúng ta cần có khả năng nhận dạng nó. Chúng ta cần khiếu thẩm mỹ tốt để tạo ra những sản phẩm tốt. Thay vì coi cái đẹp là một khái niệm trừu tượng bay bổng, để nói nhảm hoặc né tránh tuỳ theo cách mỗi người cảm nhận về các khái niệm trừu tượng bay bổng, hãy thử suy nghĩ về nó như một câu hỏi thực tế: làm thế nào để tạo ra những sản phẩm tốt?

Nếu bạn nhắc đến khiếu thẩm mỹ ngày nay, rất nhiều người sẽ bảo với bạn rằng “khiếu thẩm mỹ [2] là chủ quan.” Họ tin vào điều này vì họ thực sự cảm nhận như vậy. Khi họ thích một cái gì đó, họ không biết tại sao. Có thể vì cái thứ họ thích thật đẹp, hoặc vì mẹ của họ có một cái tương tự, hoặc vì họ thấy một diễn viên nổi tiếng đeo nó trong trang bìa một tờ báo, hoặc vì họ biết rằng nó thực sự đắt. Các suy nghĩ của họ là một mớ bòng bong các thôi thúc không được phân tích.

Phần lớn chúng ta từ nhỏ đã được khuyến khích từ bỏ phân tích và thấu hiểu các thôi thúc này. Nếu bạn trêu chọc em trai mình vì “tội” tô màu mọi người màu xanh lá trong sách tô màu của mình, nhiều khả năng mẹ bạn sẽ nói với bạn một cái gì đại loại như là “con thích tô màu kiểu của con và em thích tô màu kiểu của em.”

Mẹ bạn vào lúc này đang thực sự không cố gắng dạy bạn các sự thật quan trọng về thẩm mỹ. Mẹ bạn chỉ cố gắng dừng cãi nhau giữa bạn và em trai bạn.

Giống như những sự nửa-thật khác mà người lớn nói với chúng ta, cái này đi ngược với nhiều điều khác họ dạy. Sau khi nhồi nhét tư tưởng rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là vấn đề lựa chọn cá nhân, họ dẫn bạn đi dến các bảo tàng lớn và nói với bạn rằng con nên tập trung xem tranh vì Leornado là một nghệ sĩ vĩ đại.

Cái gì xảy ra trong đầu đứa trẻ vào lúc này? Nó sẽ nghĩ “nghệ sĩ vĩ đại” có ý nghĩa gì? Sau khi được bảo rằng mỗi người thích làm các thứ theo ý mình, đứa trẻ sẽ ít có khả năng đi thẳng đến kết luận rằng nghệ sĩ vĩ đại là một người mà các tạo phẩm của họ tốt hơn bất kì tạo phẩm của ai khác. Một khả năng lớn hơn nhiều, trong mô hình Ptolemy mô phỏng thế giới của đứa trẻ, là một nghệ sĩ vĩ đại là một cái gì đó tốt cho bạn, giống như súp-lơ tốt cho sức khoẻ, chỉ vì ai đó nói thế trong một cuốn sách.

Nói rằng khiếu thẩm mỹ chỉ là ưa thích cá nhân là một cách tốt để phòng ngừa tranh cãi. Vấn đề là, nó không đúng. Bạn cảm thấy điều này khi bạn thực sự thiết kế các thứ.

Bất kể trong nghề gì, tự nhiên mọi người đều muốn làm tốt hơn. Các cầu thủ bóng bầu dục muốn thắng các trận bóng. Các CEO muốn kiếm nhiều tiền hơn. Đây là một vấn đề của tự hào, và một niềm hạnh phúc, để được trở nên tốt hơn trong nghề. Nhưng nếu nghề của bạn là thiết kế các thứ, và nếu không có gì là cái đẹp, thì thực sự không thể có một cách nào để làm tốt hơn trong nghề của bạn. Nếu mọi thứ chỉ là ưa thích cá nhân, thì tất cả mọi người đều đã hoàn hảo: bạn thích cái gì bạn thích, và chỉ như vậy là đủ.

Giống như trong mọi nghề khác, khi bạn liên tục thiết kế các thứ, bạn trở nên giỏi hơn trong việc thiết kế. Khiếu thẩm mỹ của bạn thay đổi. Và giống như tất cả những người trở nên giỏi hơn trong nghề, bạn biết rằng bạn đang trở nên tốt hơn. Nếu thế, những cái cảm nhận thẩm mỹ [3] cũ của bạn không chỉ khác, mà còn kém hơn cái bạn đang có. Tiên đề nói rằng khiếu thẩm mỹ không thể “sai” vừa bị tôi cho bốc hơi.

Chủ nghĩa tương đối đang thịnh hành ở thời đại này, và nó có thể sẽ cản trở bạn trong việc suy nghĩ về khiếu thẩm mỹ, kể cả khi khiếu thẩm mỹ của bạn lớn lên. Nhưng khi bạn đi ra khỏi phòng ngủ và thú nhận, ít nhất là với bản thân, rằng có một cái gì đó gọi là thiết kế tốt và thiết kế kém, bạn có thể bắt đầu học về các thiết kế tốt một cách cặn kẽ. Khiếu thẩm mỹ của bạn đã thay đổi như thế nào? Khi bạn phạm sai lầm, cái gì làm điều đó xảy ra? Mọi người khác đã học gì về thiết kế?

Khi bản thực sự tìm hiểu câu hỏi, thật đáng ngạc nhiên rằng các khái niệm về cái đẹp của các ngành khác nhau có nhiều điểm chung như vậy. Các quy luật về thiết kế tốt xuất hiện đi xuất hiện lại.

Thiết kế tốt thì đơn giản. Bạn được biết về điều này từ toán học cho đến mỹ thuật. Với toán học một chứng minh ngắn hơn thường là một chứng minh tốt hơn. Đặc biệt là với các tiên đề, càng ít càng tốt. Điều này gần như không khác gì trong lập trình. Với các kiến trúc sư và nhà thiết kế, cái đẹp chỉ nên dựa trên một vài yếu tố về cấu trúc được chọn lựa kỹ càng, thay vì quá nhiều những tô vẽ hời hợt. (Bản thân trang trí không phải cái xấu, trừ phi nó bị che đậy dưới sự vô vị. ) Tương tự, trong mỹ thuật, tranh tĩnh vật của một vài đồ vật được quan sát cẩn thận và sắp xếp chắc chắn thường sẽ thú vị hơn một dải tranh vẽ những thứ bóng bẩy nhưng lặp lại một cách vô thức của, ví dụ, một cái ren cổ áo. Trong viết lách, điều này có nghĩa là: nói đúng cái mình nghĩ và nói một cách ngắn gọn thôi.

Có vẻ kì lạ khi tôi nhấn mạnh sự đơn giản. Bạn nghĩ đơn giản sẽ là mặc định. Hào nhoáng là thêm việc. Nhưng có vẻ có cái gì đó ám ảnh con người ta khi họ cố gắng sáng tạo. Các nhà văn mới bắt đầu thường sử dụng một giọng văn mỹ miều mà không giống cách họ nói chuyện bình thường một tí nào. Các nhà thiết kế cố gắng thể hiện tính nghệ thuật hạ mình xuống mức nguệch ngoạc và tô vẽ cong cớn [4]. Các hoạ sĩ phát hiện ra là họ theo chủ nghĩa biểu hiện. Tất cả đều chỉ là né tránh. Dưới tất cả những từ ngữ dài dòng và những đường cọ đầy nét “biểu hiện” , không có gì thực sự xảy ra, và điều này thật đáng sợ.

Khi bạn bị bắt buộc phải đơn giản, bạn bị bắt phải đối mặt với vấn đề thật sự. Khi bạn không thể cung cấp sự tô vẽ, bạn phải cung cấp phẩm chất. [5]

Thiết kế tốt thì bất hủ. Trong toán học, mọi chứng minh là mãi mãi cho đến khi nó có một lỗi sai. Vậy ý Hardy là gì khi nói rằng không có một chỗ nào vĩnh viễn cho những thứ toán học xấu xí? Ý ông giống điều mà Kelly Johnson từng nói: nếu có gì đó xấu xí, nó không thể là giải pháp tốt nhất. Phải có một cái gì đó tốt hơn, và cuối cùng thì sẽ có ai đó tìm ra nó.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để đảm bảo bạn tìm được câu trả lời tốt nhất. Nếu bạn có thể tưởng tượng ai đó vượt qua bạn, bạn nên tự làm. Một vài vị bậc thầy giỏi đến mức họ để rất ít chỗ cho những người đi sau sáng tạo thêm. Tất cả những nhà điêu khắc sau Durer phải sống dưới cái bóng của ông.

Nhắm đến sự bất hủ cũng là một cách để tránh ảnh hướng của thời trang. Thời trang theo định nghĩa là phải thay đổi theo thời gian, vì vậy nếu bạn có thể làm cái gì đó mà vẫn tốt trong tương lai lâu dài thì sự hấp dẫn của sản phẩm đó phải đến từ bản chất của nó chứ không phải từ thời trang.

Tương đối kỳ lạ là nếu bạn muốn chế ra cái gì đó mà sẽ hấp dẫn các thế hệ trong tương lai, một cách để triển khai là tìm cách hấp dẫn các thế hệ trong quá khứ. Rất khó để đoán được tương lai sẽ như thế nào, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng nó sẽ giống quá khứ trong việc không quan tâm gì đến những thứ đang là thời thượng. Vì vậy nếu bạn có thể làm gì đó hấp dẫn mọi người của thế hệ này và cũng đã có thể hấp dẫn những người ở thế kỉ 15, có khả năng nó cũng sẽ hấp dẫn những người ở thế kỷ 25.

Thiết kế tốt giải quyết đúng vấn đề. Một chiếc bếp ga điển hình có bốn lò được xếp ở 4 góc của hình vuông, và mỗi lò một tay vặn để chỉnh. Làm sao để sắp xếp các tay vặn? Câu trả lời đơn giản nhất là đặt chúng theo một hàng, nhưng đây là câu trả lời đơn giản cho một câu hỏi sai. Các tay vặn là để cho người dùng, và nếu bạn đặt nó theo một hàng, người dùng không may mắn sẽ phải dừng lại và nghĩ mỗi lần dùng xem tay vặn nào đi với lò nào. Tốt hơn là xếp các tay vặn theo hình vuông theo những cái lò.

Rất nhiều các thiết kế tồi thường khá cần mẫn, nhưng lệch hướng. Vào giữa thế kỷ hai mươi, có một xu hướng để chữ theo phông sans-serif. Các phông chữ này đúng là sát với các dạng chữ thuần khiết và cơ bản nhất. Nhưng trong việc đánh chữ đó không phải là vấn đề bạn muốn giải quyết. Để cho mọi thứ dễ đọc thì việc quan trọng hơn là các chữ cái phải dễ phân biệt với nhau hơn. Có thể nó sẽ hơi bắt chước thời đại Victoria, nhưng một chữ g không viết hoa theo phông Times Roman thì dễ phân biệt hơn một chữ y cùng dạng.

Các vấn đề cũng có thể được cải tiến như với các giải pháp. Trong lập trình, một vấn đề nan giải thường có thể thay thế bằng một vẫn đề khác tương đương nhưng lại dễ giải quyết. Ngành vật lý phát triển nhanh hơn khi các vấn đề trở thành việc dự đoán các hành vi và hiện tượng có thể quan sát được, thay vì tạo kết nối giữa những hiện tượng này với lý thuyết [6].

Thiết kế tốt thì khơi gợi. Các tiểu thuyết của Jane Austen chứa trong chúng gần như không một chút miêu tả nào; thay vì tả cho bạn mọi thứ trông như thế nào, nhà văn kể chuyện tài tình đến mức bạn tự mình hình dung ra cảnh vật. Tương tự, một bức tranh mà khơi gợi thì thường lôi cuốn hơn một bức tranh kể lể. Tất cả mọi người đều tự chế ra các câu chuyện của riêng mình về bức Mona Lisa.

Trong kiến trúc và thiết kế, quy luật này có nghĩa là một toà nhà hay một đồ vật nên để bạn dùng nó theo những cách của riêng bạn: một toà nhà thiết kế tốt chẳng hạn, sẽ là nền tảng cho bất kì kiểu cách sống nào mọi người muốn có, thay vì làm họ sống trong cảm giác phải chạy theo một chương trình được viết sẵn bởi kiến trúc sư.

Trong lập trình, điều này có nghĩa là bạn nên cho những người dùng một vài yếu tố cơ bản để họ có thể kết hợp nếu muốn, giống như Lego. Trong toán học, nó có nghĩa là một chứng mình mà trở thành nền tảng cho rất nhiều các nghiên cứu mới thì hay hơn là một chứng minh mà cực kỳ khó nhưng không dẫn đến các khám phá trong tương lai; trong các ngành khoa học điều này tương đương với việc lượng trích dẫn được coi là một dấu hiệu thô sơ của sự xứng đáng.

Thiết kế tốt thì thường hơi buồn cười. Điều này có thể không đúng lắm. Nhưng điêu khắc của Durer và ghế tử cung của Saarinen và đền Pantheon và mẫu xe gốc cho Porsche 911 đều có vẻ hơi ngộ nghĩnh với tôi. Định lý bất toàn của Godel nghe như một trò đùa trêu ngươi. [7]

Tôi nghĩ bởi vì tính hài hước thì liên quan đến sức mạnh. Để có khiếu hài hước thì ta cũng cần mạnh mẽ: để giữ lập trường và cảm nhận về hài hước thì cần biết giũ đi những điều bất hạnh, và để mất khiếu hài hước thì cần bị tổn thương bởi những điều này. Và vì vậy dấu hiệu—hoặc ít nhất là một quyền lợi—của sức mạnh là việc không quá nghiêm trọng hoá bản thân. Thường thì những người tự tin, giống như những chú chim én, có vẻ như đang chọc ghẹo cả quá trình sáng tạo, giống như Hitchcock hay làm trong phim của ông, hay Bruegel với các bức tranh của mình—hay thậm chí cả Shakespeare, trong trường hợp này.

Thiết kế tốt có thể không cần hài hước, nhưng khó có thể tưởng tượng một cái gì bị gọi là thiếu hài hước mà lại là thiết kế tốt.

Thiết kế tốt thì khó. Nếu bạn quan sát những người đã làm những sản phẩm tuyệt vời, một thứ mà tất cả đều có vẻ có chung là họ đều làm việc cực kỳ chịu khó [8]. Nếu bạn không chịu khó, nhiều khá năng là bạn đang phí hoài thời gian.

Các vấn đề khó đòi hỏi các nỗ lực rất lớn. Trong toán học, các chứng minh khó yêu cầu các lời giải tài tình, và thường những lời giải đó đều khá thú vị. Tương tự với ngành kỹ thuật.

Khi bạn phải leo một quả núi, bạn ném đi tất cả những gì không cần thiết ra khỏi ba lô của mình. Và vì thế một kiến trúc sư phải thiết kế xây dựng trên một khu địa hình phức tạp, và với một nguồn vốn nhỏ, sẽ nhận ra rằng anh ta buộc phải sản xuất ra một thiết kế thanh nhã. Các sự thời trang và hoa hoè bị phủi sang một bên trước sự hiện diện của công việc đầy thách thức: ít nhất là tìm ra được giải pháp cho vấn đề.

Không phải mọi thứ khó khăn đều tốt. Có những cơn đau tốt và những cơn đau xấu. Bạn muốn cái kiểu đau từ việc bạn đi tập chạy, và không phải kiểu đau từ việc dẫm phải đinh. Một vấn đề khó có thể tốt cho một nhà thiết kế, nhưng một khách hàng hay thay đổi yêu cầu hoặc các vật liệu không tin cậy thì không tốt.

Trong mỹ thuật, các tranh vẽ người thường theo truyền thống được vinh danh nhiều nhất. Có một lí do gì đó cho truyền thống này, và không chỉ đơn giản rằng các tranh vẽ mặt người có khả năng kích thích não bộ của chúng ta theo những cách các tranh khác không làm được. Chúng ta giỏi trong việc nhìn nhận các khuôn mặt đến mức chúng ta bắt những người vẽ chúng phải chịu nhiều khó khăn để làm thoả mãn chúng ta. Nếu bạn vẽ một cái cây và bạn thay đổi góc của một cái cành cây khoảng năm độ, sẽ chẳng có ai biết. Khi bạn vẽ mắt của ai đó lệch khoảng năm độ, mọi người sẽ để ý.

Khi các nhà thiết kế Bauhaus bắt trước quy luật của Sullivan, “chức năng trước, hình thức sau” [9], ý họ là hình thức nên đi theo sau tính năng. Và nếu chức năng đủ khó thì hình thức sẽ bị buộc phải đi theo chức năng, vì ta không có thừa sức lực để phát sinh thêm các lỗi sai. Các động vật hoang dã thường đẹp vì chúng sống những cuộc đời khó khăn.

Thiết kế tốt thì trông dễ. Giống như những vận động viên thể thao lớn, các nhà thiết kế vĩ đại làm mọi thứ có vẻ dễ dàng. Phần lớn đây là ảo giác. Giọng văn đơn giản, đầy tính đàm thoại của các viết lách tốt xuất hiện vào lần viết lại thứ tám.

Trong khoa học và kỹ thuật, có những phát hiện vĩ đại mà có vẻ đơn giản đến mức bạn phải tự nhủ, đến mình cũng có thể nghĩ ra chúng. Người khám phá ra những điều này có quyền hỏi ngược lại, tại sao bạn không làm thế?

Một vài tranh vẽ mặt của Leonardo chỉ mất vài nét. Bạn nhìn vào chúng và nghĩ, tất cả cái mình cần làm là vẽ lại được tám đến mười nét ở đúng chỗ của chúng, và bạn đã vẽ xong bức chân dung tuyệt đẹp này. Ừ thì, hẳn vậy, nhưng bạn phải vẽ chúng ở chính xác những chỗ đó. Lỗi sai nhỏ nhất cũng sẽ làm cả bức tranh đổ vỡ.

Vẽ bằng một nét trên thực tế là phương tiện hình ảnh khó học nhất, vì chúng đòi hỏi sự cầu toàn. Nếu dùng các khái niệm toán học, điều này tương đương với một đáp án cụ thể [10]; các hoạ sỹ kém hơn giải quyết cùng vấn đề này bằng cách liên tiếp xấp xỉ. Một trong những lí do trẻ con dừng tập vẽ khoảng năm mười tuổi là vì chúng bắt đầu vẽ như người lớn, và một trong những thứ đầu tiên chúng thử là vẽ bằng một nét. Bụp! [11]

Trong phần lớn các ngành, sự hiện diện của cảm giác dễ dàng thường đi kèm với luyện tập. Có lẽ cái mà luyện tập làm là chuẩn bị tiềm thức của bạn để giải quyết một cách vô thức các công việc mà bình thường yêu cầu bạn phải suy nghĩ ý thức. Trong một số trường hợp, theo đúng nghĩa đen là bạn phải luyện tập cơ thể mình. Một nghệ sĩ dương cầm chuyên nghiệp có thể đánh các nốt nhạc nhanh hơn cả tốc độ não có thể gửi tín hiệu đến tay của anh ta. Tương tự, một hoạ sỹ, sau một thời gian, có thể đưa nhận thức hình ảnh chảy từ mắt xuống bàn tay mình một cách tự động không kém gì một người gõ chân theo nhịp nhạc.

Khi mọi người nói về trạng thái siêu tập trung [12], tôi nghĩ ý họ là mọi thứ đã được tuỷ sống [13] của họ kiểm soát. Tuỷ sống của bạn sẽ bớt ngại ngùng, và nó để dành các suy nghĩ có ý thức cho các vấn đề thực sự khó.

Thiết kế tốt sử dụng đối xứng. Tôi nghĩ rằng đối xứng có thể chỉ là một cách để đạt được sự đơn giản, nhưng nó đủ quan trọng để được nhắc đến riêng. Tạo hoá dùng đối xứng khá nhiều, đây là một dấu hiệu tốt.

Có hai loại đối xứng, sự lặp lại và sự đệ quy (quy nạp). Đệ quy được hiểu là sự lặp lại của các yếu tổ nhỏ hơn bên trong của một vật, ví dụ như các dạng mẫu của những cái gân của một chiếc lá.

Sự đối xứng đang không còn hợp thời trong một số ngành, để phản ứng lại sự thừa thãi đối xứng trong quá khứ ngành đó. Các kiến trúc sư bắt đầu xây các ngôi nhà đối xứng một cách có ý thức vào thời ký Victoria và đến tầm các năm 1920 sự bất đối xứng đã trở thành một tiên đề rõ ràng của kiến trúc hiện đại. Nhưng cả những ngôi nhà này cũng chỉ bất đối xứng ở những trục chính; còn có hàng trăm các đối xứng nhỏ trong thiết kế.

Trong viết văn bạn sẽ tìm thấy sự đối xứng ở mọi cấp độ, từ các cụm từ trong một câu cho đến cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết. Bạn sẽ tìm thấy những thứ tương tự trong âm nhạc và nghệ thuật. Các tranh ghép mosaic (và một vài tranh của Cézanne) thêm ấn tượng hình ảnh bằng cách xây dựng cả bức tranh bằng những hạt cơ bản giống nhau. Đối xứng thành phần [14] đem lại những bức tranh đáng nhớ nhất, đặc biệt là khi hai nửa tranh phản ứng với nhau, ví dụ như tranh Creation of Adam hoặc American Gothic.

Trong toán và kỹ thuật, đặc biệt phép đệ quy là một lợi thế lớn. Các chứng minh quy nạp thường ngắn một cách kì diệu. Trong lập trình, các bài toán có thể giải được bằng đệ quy thường có đệ quy là cách giải tốt nhất. Tháp Eiffel trông thật ấn tượng một phần vì đó là một giải pháp khá đệ quy, một toà tháp trên một toà tháp khác.

Sư nguy hiểm của đối xứng, và đặc biệt là sự lặp lại, là việc nó có thể bị dùng để thay thế cho suy nghĩ.

Thiết kế tốt thì mô phỏng thiên nhiên. Không phải vì có cái gì đó tốt trong bản chất của việc mô phỏng thiên nhiên, mà là vì thiên nhiên đã có rất nhiều thời gian để giải quyết vấn đề của nó. Sẽ là một dấu hiệu tốt khi giải pháp của bạn mô phỏng được thiên nhiên.

Sẽ không phải là ăn gian để bắt chước. Sẽ có ít người phủ nhận rằng một câu chuyện nên giống với quộc đời. Làm việc lấy xuất phát điểm từ cuộc sống là một công cụ quý giá, dù vai trò của nó thường hay bị hiểu lầm. Mục tiêu không phải là để lập kỉ lục hay được ghi nhận. Mục tiêu của việc vẽ lấy cảm hứng từ cuộc sống là việc đó cho tâm trí bạn cái gì đó để nhai tạm: khi mắt bạn đang nhìn cái gì đó, tay bạn sẽ làm những việc thú vị hơn.

Giả mạo tương lai cũng được tính trong ngành kỹ thuật. Có nhiều các thuyền đã lâu nay có cột sống và khung sườn như của một con thú. Ở một vài trường hợp chúng ta cần chờ đợi công nghệ tốt hơn: các nhà thiết kế máy bay đời đầu đã sai lầm khi thiết kế những chiếc máy bay trông giống chim, vì họ không có những vật liệu hoặc nguồn nhiên liệu đủ nhẹ (động cơ của anh em nhà Wright nặng 152 lbs. [15] và tạo ra mỗi 12 mã lực.) hoặc các bảng điều khiển đủ phức tạp cho những cỗ máy bay như chim, nhưng tôi có thể hình dung các máy bay trinh sát có cấu trúc giống chim trong khoảng năm mươi năm tới.

Hiện giờ chúng ta đã có đủ nguồn lực máy tính, chúng ta có thể bắt chước các phương thức của thiên nhiên cũng như kết quả của nó. Các thuật toán di truyền có thể cho chúng ta tạo ra những thứ quá phức tạp để thiết kế theo khái niệm thông thường.

Thiết kế tốt là tái thiết kế. Thật hiếm để làm mọi thứ đúng ngay lần đầu tiên. Các chuyên gia dự định trước là sẽ vứt bỏ một vài sáng chế ban đầu. Họ lên kế hoạch trước cho việc kế hoạch sẽ thay đổi.

Cần tự tin để vứt sang chế đi. Bạn phải có khả năng nghĩ rằng, còn nhiều thứ có thể sinh ra từ nó. Khi mọi người bắt đầu vẽ chẳng hạn, họ thường ngại vẽ lại một vài phần khôg đúng; họ cảm thấy họ đã đủ may mắn khi đi xa được như thế, và nếu họ cố gắng làm lại một cái gì đó, nó sẽ chỉ tệ hơn. Thay vì làm lại họ tự huyễn hoặc rằng bản vẽ không thực sự tệ đến thế–trên thực tế, có khi ý họ là nó phải trông như vậy.

Bất kì cái gì hình thành sự không thoả mãn thường là trong ranh giới nguy hiểm. Các tranh của Leonardo thường có khoảng năm hoặc sáu lần thử để nét vẽ chuẩn xác. Phần sau xe đặc biệt của chiếc Porsche 911 chỉ xuất hiện sau khi tái thiết kế lại một mẫu thử gượng gạo. Trong các bản thiết kế đầu tiên của toà nhà Guggenheim của kiến trúc sư Frank Lloyd Wright, nửa bên phải là một cấu trúc Ziggurat, ông chỉ xoay ngược nó để có hình dạng hiện tại.

Các lỗi lầm là một phần của tự nhiên. Thay vì coi chúng như những thảm hoạ, hãy làm chúng dễ nhận biết và dễ sửa. Leonardo gần như là người đãng sáng tác ra phương pháp vẽ phác, để giúp mỹ thuật mang sức nặng hơn về sự khám phá. Các phần mềm mã mở có ít lỗi hơn vì chúng ghi nhận khả năng có lỗi.

Sẽ rất tốt nếu có một thứ phương tiện giúp sự thay đổi xảy ra dễ dàng. Khi sơn dầu thay thế thuốc màu tempera vào thế kỷ mười lăm, nó giúp các hoạ sĩ xử lí các chủ đề khó hơn như cơ thể người bởi vì, không giống như tempera, sơn dàu có thể được pha loãng và được tô đè lên.

Thiết kế tốt có thể sao chép. Các thái độ với sự sao chép thường thay đổi theo chu kì một vòng. Một người mới học việc bắt chiếc vô ý thức; sau đó anh ta cố gắng một cách ý thức để trở nên độc đáo; cuối cùng anh ta quyết định là việc làm đúng quan trọng hơn là cố gắng độc đáo.

Sao chép vô ý thức gần như là một công thức cho thiết kế xấu. Nếu bạn không biết các ý tưởng của mình đến từ đâu, có lẽ bạn đang bắt chước một kẻ bắt chước khác. Raphael quá là phổ biến vào giữa thế kỷ mười chín để đến mức mà bất kì ai cố gắng vẽ đều đang bắt chước ông ta, thường là qua vài người bắt chước trung gian khác. Chính vì chuyện này, chứ không phải vì các tác phẩm của Raphael, làm bức xúc nhóm Tiền-Raphael [16].

Những người giàu tham vọng không thoả mãn với việc bắt chước. Giai đoạn thứ hai của việc nuôi lớn khiếu thẩm mỹ là một cố gắng ý thức để tạo giá trị mới.

Tôi nghĩ nhưng bậc thầy giỏi nhất vượt qua giai đoạn này để đến một trạng thái quên mình. Họ chỉ muốn có câu trả lời đúng đắn, và nếu một phần của câu trả lời đúng đã được khám phá ra bởi ai đó khác, thì chẳng có lí gì mà không dùng luôn nó. Họ đủ tự tin để lấy từ bất kì ai mà không cảm thấy tầm nhìn của họ bị mất đi trong quá trình này.

Thiết kế tốt thường kỳ lạ. Một vài sáng tạo tuyệt vời nhất thường có tính chất quái dị: Công thức Euler, bức Thợ Săn trong Tuyết của Bruegel, máy bay SR-17, và ngôn ngữ lập trình LISP. Chúng không chỉ đẹp, mà đẹp một cách lạ kỳ.

Tôi không chắc vì sao. Có thể chỉ là sự ngu ngốc của chính tôi. Một cái mở nắp chắc phải là một thứ rất kì diệu đối với một chú chó. Có thể nếu tôi đủ thông minh thì việc e^(i*pi)=-1 sẽ là thứ hiển nhiên nhất trên đời. Dẫu sao thì nó cũng là một sự thật.

Phần lớn những thứ tôi đã nhắc đến đều có thể được hình thành, nhưng tôi không nghĩ ta có thể tự hình thành sự quái dị. Điều tốt nhất bạn có thể làm là không đè bẹp nó khi nó bắt đầu xuất hiện. Einstein không hề cố gắng làm cho thuyết tương đối kỳ lạ. Ông ta cố gắng làm cho nó đúng, và sự đúng đắn ấy cuối cùng trông khá kỳ lạ.

Ở một trường mỹ thuật tôi từng đi học, các sinh viên muốn nhất là hình thành phong cách riêng. Nhưng nếu bạn cố gắng tạo ra những thứ tốt, cuối cùng thì bạn sẽ tạo ra chúng theo một cách rất riêng, giống như cách mỗi người bước chân cũng rất khác nhau. Michaelangelo không cố gắng vẽ giống Michaelangelo. Ông ta chỉ cố gắng vẽ đẹp, và vì thế nên ông không thể cản mình vẽ giống Michaelangelo.

Phong cách đáng có duy nhất là phong cách mà bạn không thể chối bỏ được. Và điều này đặc biệt đúng với sự kỳ lạ. Không có một đường tắt nào để đến với nó. Cái thứ Hành lang Tây Bắc mà nhóm trường phái kiểu cách, nhóm trường phái lãng mạn, và hai thế hệ học sinh cấp ba ở Mỹ bỏ công tìm kiếm dường như không tồn tại. Cách duy nhất để đi đến cái đích này dường như chỉ có đi hết con đường và đi ra ở đầu bên kia.

Thiết kế tốt thường xuất hiện theo từng đợt. Những người sống ở Florence vào thế kỉ mười lăm bao gồm Brunelleschi, Ghiberti, Donatello, Masaccio, Filippo Lippi, Fra Angelico, Verrocchio, Botticelli, Leonardo, và Michaelangelo. Milan thời bấy giờ to ngang ngửa Florence. Bạn có thể kể tên bao nhiêu hoạ sĩ đến từ Milan vào thế kỉ mười lăm?

Có gì đó đã xảy ra ở Florence vào thế kỷ mười lăm. Và nó không phải là vấn đề thừa hưởng gen, vì nó không còn xảy ra nữa. Bạn phải giả định rằng bất kì khă năng bẩm sinh nào Leonardo và Michaelangelo có, sẽ có những người sinh ra ở Milan với những tài năng tương tụ. Chuyện gì đã xảy ra với Leonardo của Milan?

Có khoảng một ngàn lần số người sống ở Hoa Kỳ so với số người sống ở Florence của thế kỷ mười lăm. Một ngàn Leonardo và một ngàn Michaelangelo xống trong xã hội của chúng ta. Nếu ADN thực sự đóng vai trò quan trọng, nhẽ ra chúng ta phải bị king ngạc bởi nhan nhản các tác phẩm nghệ thuật ở mọi nơi. Nhưng sự thật không phải vậy, và lí do là vì để sinh ra một Leonardo bạn cần nhiều hơn khả năng bẩm sinh của anh ta. Bạn cần Florence vào năm 1450.

Chẳng có gì mạnh hơn một cộng đồng những người có nhiều tài năng và cùng nhau làm việc trên những vấn đề liên quan tới nhau. Gen không ảnh hưởng nhiều lắm so với yếu tố này: có gen của Leonardo không đủ đề bù cho việc được sinh ra ở gần Milan thay vì Florence. Hôm nay chúng ta di chuyển nhiều hơn, nhưng các sáng tạo vĩ đại thường chỉ đến từ một vài chỗ nóng đặc biệt: nhà Bauhaus, Dự Án Manhattan, thời báo New Yorker, Skunk Works của hãng Martin Lockheed, Công ty nghiên cứu PARC thuộc Xerox.

Ở bất kỳ một thời điểm nào sẽ có một vài chủ đề nổi cộm và một vài nhóm làm những việc ấn tượng trong những chủ đề này, và bạn sẽ gần như không thể làm được những việc tương tự nếu bạn ở quá xa một trong những trung tâm này. Bạn có thể đưa đẩy các xu hướng này ở một mức độ nào đó, nhưng bạn không thể cắt mình khỏi chúng. (Có thể chỉ bạn mới làm được điều này, nhưng phiên bản Leonardo ở Milan không thể.)

Thiết kế tốt thường liều lĩnh. Ở bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào, mọi người đều đã từng tin vào những thứ siêu ngớ ngẩn, và niềm tin của họ mạnh mẽ đến mức bạn sẽ có nguy cơ bị tẩy chay hoặc bị bạo hành nếu đưa ra những thứ đi ngược với niềm tin này.

Nếu thế hệ của chúng ta mà không còn như vậy thì sẽ thật tuyệt vời. Với những gì tôi biết, điều này không đúng.

Vấn đề này ảnh hưởng không chỉ mọi thời đại, mà còn ở một số mức độ mọi ngành nghề. Phần lớn mỹ thuật thời Renaissance được coi là trần tục một cách đáng kinh ngạc: theo lời Vasari, Botticelli từng hối hận và từ bỏ hội hoạ, và Fra Bartolommeo và Lorenzo di Credi thậm chí còn đốt một vài tác phẩm của họ. Thuyết tương đối của Einstein xúc phạm rất nhiều nhà vật lý cùng thời, và đã không được chấp nhận hoàn toàn đến hàng thập kỷ–đặc biệt ở Pháp, phải đến những năm 1950.

Lỗi thử nghiệm hôm nay là lý thuyết mới của ngày mai. Nếu bạn muốn khám phá ra những thứ vĩ đại mới thì thay vì nhắm mắt với nhưng nơi mà sự thật và lẽ phải thông thường không giao nhau, hãy đặc biệt chú ý đến chúng.

Một vấn đề thực tế, tôi nghĩ dễ tưởng nhìn thấy cái xấu hơn là hình dung cái đẹp. Phần lớn những người đã làm ra những thứ đẹp đẽ thường làm được việc này nhờ chữa một cái gì đó họ cho là xấu xí. Những tuyệt tác thường được hoàn thành vì có ai đó nhìn thấy một cái gì đó và nghĩ Mình có thể làm tốt hơn thế này. Giotto nhìn thấy những hình mẹ Mary theo phong cách Byzantine truyền thống, được vẽ theo một công thức mà đã thoả mãn mọi người hàng trăm năm nhưng với ông thì trông chúng khô cứng và không tự nhiên. Copernicus phiền não vì một “phát minh” mà tất cả những người cùng thời của ông có thể chấp nhận đến mức mà ông cảm giác phải có một lời giải tốt hơn.

Sự không khoan nhượng với cái xấu thì không đủ. Bạn phải hiểu một ngành đủ sâu trước khi bạn hình thành một cái mũi đánh hơi tốt những gì cần sửa đổi. Bạn phải làm bài tập về nhà của riêng mình. Nhưng khi bạn dần trở thành một chuyên gia trong ngành của mình, bạn sẽ bắt đầu nghe thấy những giọng nói nho nhỏ trong đầu mình, Đúng là ăn gian! Phải có một cách gì đó tốt hơn. Đừng kệ những giọng nói này. Nuôi dưỡng chúng. Công thức cho việc làm vĩ đại là: một cái khiếu thẩm mỹ cực kì rõ ràng, cộng thêm khả năng thoả mãn cái khiếu thẩm mỹ ấy.

Ghi Chú

Sullivan thực ra đã nói là “form luôn luôn đi theo function,” nhưng tôi nghĩ sự trích dẫn sai thường thấy thì sát với ý của các kiến trúc sư hiện đại hơn.

Stephen G. Brush, “Vì sao Thuyết Tương Đối được Chấp Nhận?” Báo Vật Lý trong Quan Điểm 1 (1999) 184-214

***

Ghi Chú từ người dịch:

[0] Taste: mình băn khoăn rất nhiều khi chọn từ thay thế cho taste, đây là từ cuối cùng được dịch ra. Dường như không có gì trong tiếng Việt thay thế được sự tối giản và móc nối với các lớp nghĩa khác của cùng từ Taste này. Taste là nếm thử, nếm trải, nhưng cũng là sở thích và thị hiếu- và khi đọc từ taste thì mình luôn luôn ám ảnh hơn về cảm giác nghĩa này; dường như thực sự có một cái ý nghĩa hay khái niệm gì đó mà nằm tách biệt hẳn khỏi ngôn ngữ mô tả chúng. Mình chọn “khiếu thẩm mỹ” qua rất nhiều cân nhắc, nhưng cụm này thì tránh gây hiểu lầm nhất.

[1] nhắc nhở rằng taste vẫn là một từ ngắn gọn

[2] đây có lẽ là sự lệch lạc về màu nghĩa đầu tiên cho từ taste và cụm “khiếu thẩm mỹ”

[3] vẫn là taste

[4] swooshes & curlicues

[5] substance

[6] Dịch scripture là lý thuyết, vì tác giả sử dụng liên hệ tôn giáo: một lý thuyết đã quá vững vàng và được chấp nhận gần như Kinh Thánh.

[7] practical joke

[8] work hard dịch là lviec chăm chỉ dường như không sát nghĩa cho lắm

[9] form follows function, dùng cấu trúc câu này để làm rõ tính tối giản của câu gốc, để so sánh với ý sau, là form should follow function

[10] closed-form solution, chứ không phải các lời giải mang tính ước lượng. Hãy nghĩ việc giải một phương trình vi phân tuyến tính bậc nhất bằng cách tìm thừa số tích phân và tìm ra phương trình đích xác và thay số, so với sử dụng Phương Pháp Euler để ra một xấp xỉ số gần sát chẳng hạn.

[11] Smack!

[12] being in the zone

[13] Hiểu nôm na: Mọi thứ được tự động hoá bởi các dây thần kinh, không cần nghĩ nhiều để làm được việc.

[14] compositional symmetry

[15] ~ 69 kg

[16] Pre-Raphaelites


Leave a comment

Dịch: Letter to My Younger Self- Ray Allen

Article from here. Since Basketball is almost the only sports I watch, and Ray Allen has been kind of the role model to follow. Of all the letters to self in this Players’ Tribune series, I like this one the best.

Basketball has many interesting personalities and lessons. The translation was actually not difficult, just fun and quick to do. I realized the translation task is more for myself – as I get into a more intimate level with the writer.

___________________________________________________

Thư gửi cho bản thân hồi nhỏ –  Ray Allen

Gửi Ray của tuổi 13,

Khi cậu xuống xe buýt ngày mai, cậu sẽ ở một thế giới hoàn toàn mới. Điều này không phải là mới. Mỗi lần cha cậu đóng quân ở một căn cứ Air Force mới, cậu lại phải chào tạm biệt tất cả bạn bè của mình và bắt đầu một cuộc sống khác. Đây là chu kỳ sau mỗi 3 năm. Trường mới, văn hoá mới, những khuôn mặt mới.

Bắc California. Rồi Đức. Rồi Oklahoma. Sau đó là Anh Quốc. Rồi lại Nam California.

Và bây giờ, Dalzell, Nam Carolina.

Cậu quen với việc là đứa nhóc không ai biết đến. Phần lớn sự tồn tại của cậu đã từng là tìm cách để kết bạn mới, thể hiện cho mọi người rằng cậu là người tốt và cậu không có ý xấu. Cậu quen với việc là người ngoài cuộc.

Cậu đã trở nên khá giỏi ở mảng này.

Lần này thì hơi khác. Bây giờ là giữa năm học, khi tất cả mọi người đã biết hết nhau. Cậu đang ở một tuổi quan trọng, lúc mà đám trẻ cứ…

Đám trẻ cứ xấu tính với nhau.

Cậu đã lớn lên trong một gia đình quân nhân nề nếp cả đời mình. Cho đến giờ, bạn bè của cậu đều là từ các gia đình quân nhân. Cậu đi trong khu nhà mình ở với thẻ căn cước trên cổ, như xích chó, để đề phòng có vài quân nhân không biết cậu. Cậu bỏ những năm học trung học đầu đời ở nước Anh. Vì thế nên có thể cậu còn không nhận ra, nhưng với nhiều người, cậu ăn nói rất lễ độ.

Khi cậu leo lên cái xe buýt đến trường ở Nam Carolina ngày mai và mở miệng, đám trẻ con sẽ nhìn cậu như người ngoài hành tinh.

“Mày ăn nói như một thằng da trắng,” họ sẽ nói.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.15.32 AM

Cậu nhìn quanh và nhìn thấy các nhóm trẻ đã có đôi sẵn, và cậu không có chỗ ngồi.

Cậu tự nhủ, mình không hiểu. Giờ mình phải là ai?

 Tôi sẽ 100% thật lòng với cậu. Tôi ước gì mình có thể nói với cậu rằng mọi thứ sẽ đơn giản hơn, và rồi cậu sẽ quen với mọi người, và mọi thứ sẽ ổn. Nhưng cậu sẽ không chơi được với đám da trắng, hay đám trẻ da đen, hay hội mọt sách… và thậm chí cả đám chơi thể thao.

Cậu sẽ là kẻ thù của rất nhiều người, đơn giản chỉ vì cậu không đến từ quanh đây.

Đây sẽ là điều khó khăn và cũng là điều tuyệt vời nhất sẽ xảy ra với cậu.

Cái tôi muốn cậu làm là: Đến sân bóng rổ. Ở lại sân bóng rổ. Cậu có thể xây dựng toàn bộ sự tồn tại của mình ở đó.

Thế giới rộng lớn hơn Dalzell, Nam Carolina rất nhiều. Nếu cậu theo được kế hoạch này cậu sẽ thấy. Hãy nhớ lại nhưng buổi sáng Thứ Bẩy Chủ Nhật cậu nằm trên giường và nghe tiếng ba nổ máy xe van ở ngoài cửa.

Cậu biết âm thanh đó. Nó không hay ho gì.

Tất cả những thứ cậu muốn làm là đi ngủ tiếp, nhưng hãy cầm đôi giầy của mình và chạy xuống cầu thang, vì ba cậu sẽ bỏ rơi cậu. Cậu có chính xác hai phút trước khi xe bắt đầu nổ máy và ba cậu sẽ đi ra đường lớn. Ba cậu có nghĩa vụ quân sự, và nếu cậu không đến sân bóng rổ trong căn cứ Air Force vào đúng 9 giờ sáng để ghi tên điểm danh, cậu sẽ phải đợi cả ngày để được vào trong.

Cậu sẽ học được rất nhiều thứ từ sân bóng rổ này. Là một đứa nhóc 13 tuổi chơi với người lớn, cậu sẽ học cách đánh phản công nhanh [1] như một sự cần thiết tối thiểu. Cậu sẽ học cánh chơi tốc độ cao mà tất cả các anh phi công sẽ bắt đầu gọi cậu là Showtime [2] mỗi khi cậu đến.

Giữa các trận bóng rổ, khi cậu đang ngồi ở rìa sân, tôi muốn cậu lắng nghe thật kĩ tất cả những câu chuyện được kể bởi những quân nhân ở đây.

Cậu sẽ nghe thấy thật nhiều, “Ông ạ, nhẽ ra tôi đã có thể…” trên những sân bóng này.

Ông ạ, tôi ước gì mình có thể đi ngược thời gian.

 Nhẽ ra tôi có thể vào Phân Nhóm I. [3]

 Rượu bia đã huỷ hoại đời tôi

 Ông ạ, nhẽ ra tôi đã có thể..

 Ông ạ, nhẽ ra tôi đã phải…

 Anh ước gì mình có thể quay lại, nhóc à…

 Đừng bao giờ để mình rơi vào vị trí mong ước được nhảy lên một cỗ máy thời gian, Ray à. Cậu cần tập trung, vì mọi thứ sẽ chỉ trở nên phức tạp hơn khi cậu thành công hơn trên sân bóng.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.15.47 AM

Khi cậu bắt đầu được các trường đại học quan tâm tới, một vài đồng đội của cậu sẽ bắt đầu nói những thứ như là, “Đại học Connecticut? Mày sẽ ngồi dự bị cho đội đó cả bốn năm.”

Chỉ vì cậu không uống rượu, họ sẽ nói, “Mày sẽ nghiện rượu khi nào lên đại học. Mày sẽ không đủ sẵn sang. Tất cả những gì họ làm ở đó là uống.”

Rất nhiều người không muốn cậu thành công. Đừng đánh nhau với chúng nó. Tin tôi đi, đánh nhau sẽ chẳng đạt được cái gì cả.

Thay vì vậy, hay nhớ thật kĩ ai nói những điều đó.

Nhớ cách họ nói chúng.

Nhớ mặt họ.

Giữ những giọng nói đó trong đầu mình và dùng nó làm nhiên liệu mỗi sang cậu thức dậy.

Và những giọng nói tâng bốc cậu? Tránh xa chúng ra. Khi cậu bắt đầu được cả nước chú ý đến ở trường phổ thong, cậu sẽ được nghe những thứ đại loại như là, “Dáng nhảy ném của Ray là của Trời cho.”

Nghe tôi: Chúa không quan tâm cậu có nhảy ném vào trái tiếp theo hay không.

Chúa sẽ cho cậu rất nhiều thứ trong cuộc đời, nhưng ông ấy sẽ không cho cậu cú nhảy ném của cậu. Chỉ có luyện tập hết sức mới làm được việc đó.

Đừng ngây thơ nghĩ rằng cậu đã sẵn sàng cho thi đấu ở cấp đại học.

Ở trường phổ thông, cậu có thể đã nghĩ là mình hiểu cậu cần cái gì để trở thành một cầu thủ bóng rổ vĩ đại, những thực sự cậu không hiểu. Khi vào đại học Connecticut, huấn luyện viên sẽ cho cậu thấy luyện tập hết sức thực sự phải như thế nào.

Tên người huấn luyện viên đó là Jim Calhoun. Đừng để rơi vào sổ đen của ông ta.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.02 AM.png

Khi cậu đi vào phòng thể chất cho buổi tập đầu tiên, hãy chuẩn bị tinh thần cho một chuyến đi đến địa ngục. Cậu sẽ cực kì phẩn khởi mặc đồng phục thi đầu của đội Huskies của trường và bắt đầu tập ném. Nhưng rồi Calhoun sẽ vặn ngược kịch bản.

“Sinh viên năm nhất!” Ông ấy sẽ nói. “Các cậu nghĩ mình xứng đáng mặc đồng phục này ư? Các cậu chưa xứng đáng với đặc quyền này. Không phải bây giờ.”

Thế rồi các trợ lí huấn luyện viên sẽ bắt đầu phát những bộ quần áo xám xịt cho tất cả các sinh viên năm nhất.

“Tôi muốn thấy mồ hôi đổ,” huấn luyện viên sẽ nói.

Cho đến lúc này, cậu sẽ nghĩ là bóng rổ chỉ là ra sân và nhảy ném và thể hiện kỹ thuật của mình.

Khi cậu trải qua buổi tập đầu tiên của huấn luyện viên Calhoun, cậu sẽ nhận ra, Ồ, môn thể thao này thật khốn kiếp. [4]

 Cậu sẽ trải qua buổi tập khủng khiếp nhất cuộc đời mình. Cậu sẽ thở hổn hển tìm không khí, cả người cúi gập. Nhưng vấn đề ở đây là phòng tập ở khu Storrs được lắp điều hoà nhiệt độ. Cơ thể cậu đã quen với những phòng tập nóng như lò thiêu ở Nam Carolina, ở đó thì không có điều hoà nhiệt độ.

Cuối buổi tập, Calhoun sẽ bắt mọi người xếp hàng và đi qua cả hàng, nhìn mặt từng người.

Khi ông ta đi đến chỗ cậu, ông sẽ nhìn xuống áo cậu, và sẽ chỉ có một giọt mồ hôi chảy xuống từ cổ họng cậu.

Ông sẽ nhìn cậu. Rồi ông nhìn xuống giọt mồ hôi. Rồi ông lại nhìn cậu.

“Chỉ thế thôi sao? Có lẽ chúng tôi chưa bắt cậu tập đủ, Allen à.”

Buổi tập sau đó sẽ còn khủng khiếp hơn.

Người đàn ông này sẽ dập cậu gần nát bét, nhưng ông ta sẽ rèn cậu thành một vận động viên và một con người tốt đẹp hơn nhiều. Đây sẽ là nhập môn với cậu về việc người ta thực sự cần gì để trở nên vĩ đại.

Một vài ngày sau, cậu sẽ có một trong những giây phút đáng nhớ nhất đời mình. Cậu sẽ ngủ dậy lúc 5h30 sáng và đến phòng tập thể hình để hoàn thành bài tập hang ngày, rồi cậu sẽ đi về phòng ngủ và tắm trước khi vào lớp.

Cậu sẽ mặc áo sơ mi và đeo cà-vạt, và xách ba lô đi xuyên qua khuôn viên trường để vào lớp học đầu tiên của ngày.

Vẫn còn sớm, nên xung quanh khá là yên tĩnh. Những chiếc lá vàng vỡ vụn ra dưới chân cậu. Người cậu đau nhức, nhưng quần áo cậu chỉn chu. Cậu vừa hoàn thành buổi tập. Cậu đã sẵn sàng. Cậu có mục đích trong đời.

Tôi không biết có gì thực sự đặc biệt ở cái khoảnh khắc này, nhưng khi cậu đang đi, cậu sẽ nghĩ, Wow. Mình đã là một sinh viên đại học. Dù gì xảy ra ở phía cuối con đường, mình sẽ làm gia đình tự hào.

Khi cậu vào lớp học nói trước đám đông và ngồi xuống, sẽ có một cô gái quay xuống và hỏi, “Này, sao ấy ăn mặc điệu đà vậy?”

Cậu sẽ nói, “Vì tớ có thể.”

Lúc đó, cậu sẽ cảm thấy như mình vừa chinh phục thế giới.

Tôi có thể kết thúc bức thư này ở đây, và cậu có thể sẽ vẫn tự hào về những gì cậu sẽ đạt được trong cuộc sống. Nhưng cậu vẫn còn 18 năm trong giải NBA phía trước.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.22 AM.png

Làm thế nào để tôi tóm tắt gần hai thập kỉ trong NBA? Cậu thật sự cần biết cái gì? Có cái gì thực sự quan trọng?

Cậu sẽ được thi đấu với những thần tượng của mình: Michael Jordan và Clyde Drexler.

Cậu sẽ được thi đấu cạnh những cầu thủ xuất sắc nhất của lịch sử bóng rổ [5]: Kevin Garnett, Paul Pierce, Lebron James, Dwyane Wade.

Đôi khi cậu sẽ sơ hãi.

Đôi khi cậu sẽ nghĩ cậu không xứng tầm.

Nhưng cậu sẽ đến phòng tập hàng ngày, bền bỉ chuẩn bị.

Cậu sẽ ném hơn 26000 phát ném trong cả sự nghiệp của mình. Gần như 6 trong 10 trái ấy là trượt. Tôi đã nói với cậu rồi, môn thể thao này là một trò chơi khốn kiếp.

Nhưng chớ lo. Một người đàn ông thành đạt được sinh ra từ 1000 thất bại. Hoặc trong trường hợp của cậu, 14000 phát ném trượt.

Cậu sẽ vô địch giải cùng đội ở Boston.

Cậu sẽ vô địch một lần nữa với Miami.

Những tính cách trong hai đội này sẽ khác nhau, nhưng cả hai sẽ có cùng một điểm chung: thói quen.

Những thói quen nhàm chán cũ rích.

Tôi biết cậu muốn tôi nói cho cậu một bí mật lớn nào đó để thành công trong NBA.

Bí mật là chẳng có bí mật nào cả.

Chỉ có những thói quen nhàm chán cũ rích.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.36 AM.png

Trong mỗi buổi họp đội trong từng phòng thay đồ cậu được tham gia, tất cả mọi người sẽ nói tất cả những điều đúng đắn. Tất cả mọi người đều nói họ sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì cần thiết để vô địch. Nhưng môn thể thao này không phải là phim. Nó không phải là vấn đề làm cậu thủ xuất sắc ở hiệp cuối. Nó không phải là về chuyện nói gì đúng. Nó là việc luyện tập hằng ngày, khi không ai quan tâm đến mình.

Kevin Garnet, Paul Pierce, Lebron James, Dwyane Wade. Những người đàn ông sẽ cùng cậu giành vô địch sẽ là những người rất khác nhau. Cái làm họ trở thành những quán quân là những thói quen nhàm chán mà không ai nhìn thấy. Họ cạnh tranh xem ai là người đầu tiên tới phòng tập và người cuối cùng ra về.

Nhưng người đồng nghiệp của cậu mà nghĩ đây là một sự sáo rỗng, hoặc nó không đúng với họ vì họ có tài năng của Chúa ban cho, sẽ thi đấu cả sự nghiệp mà không bao giờ vô địch.

Nhưng tôi muốn cậu hiểu một điều sâu sắc hơn. Những lần vô địch không phải là cái quan trọng.

Đúng, cậu sẽ có cảm giác được công nhận và được minh oan khi nhấc cúp vô địch lên trên đỉnh đầu, và nhớ về tất cả những người đã từng nói cậu sẽ chẳng làm nên trò trống gì.

Bốn năm ngồi ghế dự bị.

 Nghiện rượu.

 Thằng da trắng.

 Nhưng nếu tôi thật thà với cậu, cái cậu thực sự nhận ra sau khi đạt được danh hiệu vô địch đầu tiên là sự hồi hộp nói trên chỉ là phù du. Cảm giác được minh oan cũng phù du. Nếu cậu chỉ chạy theo cảm giác đó, cậu sẽ kết thúc là một người siêu trầm cảm.

Thi đấu giành giải vô địch gần như chỉ là phụ so với cảm giác được thức dậy buổi sang và bắt đầu làm việc. Giải vô địch giống như khoảnh khắc cậu ngồi ở Đại Học Connecticut và mặc áo sơ-mi và đeo cà-vạt. Đó chỉ là những cái đỉnh.

Con đường mòn đến những khoảnh khắc ấy, giống như chuyến đi bộ xuyên khuôn viên trường vào buổi sang mùa thu im ắng ở Connecticut ấy, đó mới là nơi cậu tìm thấy niềm vui.

Tôi thực sự nghĩ thế này từ tận đáy lòng: Cuộc sống là về những chuyến đi, không phải là cái đích đến. Và chuyến đi này sẽ thay đổi con người cậu.

Để tôi kể cho cậu một câu chuyện cuối cùng mà có thể giúp cậu hiểu ý tôi.

Sáng sớm ngày 21 tháng Sáu năm 2013. Cậu 38 tuổi, và vừa mới vài tiếng trước đội Miami Heat của cậu vừa thắng Trận số 7 của Chung Kết giải NBA.

Cậu vừa vô địch NBA lần thứ hai trong đời.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.16.47 AM.png

Cậu nằm xuống giường vào khoảng năm giờ sáng, nhưng cậu không thể ngủ. Cuối cùng, vào lúc bảy giờ, cậu từ bỏ ý định ngủ và lọ mọ xuống tầng dưới. Tất cả bạn bè và gia đình cậu vừa đến nhà cậu để ăn mừng—tất cả đang ngủ la liệt trên các ghế sofa. Cậu rón rén đi quanh họ để vào phòng bếp và làm bữa sáng. Mặt trời đang lên, ngôi nhà im ắng. Cậu vừa đạt được cái cậu muốn. Nhưng cậu vẫn cảm thấy bồn chồn.

Và vì sao cậu cảm thấy như vậy? Chẳng phải đây là cái cậu đã chuẩn bị đầy quyết tâm và chăm chỉ?

Vào khoảng 7:30, cậu leo lên ô-tô và bắt đầu lái ra đường.

Cậu tấp xe vào trước một văn phòng màu trắng. Họ vừa mở cửa.

Khi cậu vào cửa, nhân viên lễ tân nhìn cậu và hỏi, “Ray, Anh… làm gì ở đây thế này?”

“Tôi không ngủ được.”

“Nhưng… anh vừa vô địch.”

“Ừ, nhưng tôi chỉ muốn ra khỏi nhà.”

“Nhưng mà… mới có tám giờ sáng. Và anh vừa vô địch.

“Ờm, dù sao tôi vẫn cần phải làm gì với cái răng này. Anh ấy đến chưa?”

Nha sĩ của cậu đi ra khỏi phòng làm việc của mình.

“Ray? Anh đang… cái gì thế này?”

“Không ngủ được.”

Thành công trông sẽ như thế này. Cậu là cái thể loại cầu thủ đến thăm nha sĩ của mình vào buổi sáng ngay sau hôm vô địch NBA.

Tôi hiểu, Ray à.

Tôi hiểu mà.

Nhưng để đạt được những ước mơ của mình, cậu sẽ trở thành một kiểu người khác. Cậu sẽ trở nên ám ảnh về thói quen của mình. Điều này sẽ là một sự trả giả đắt với một số bạn bè và người thân của cậu.

Phần lớn các đêm, cậu sẽ không ra ngoài. Bạn bè sẽ hỏi cậu tại sao. Cậu cũng sẽ không bao giờ uống đồ có cồn. Mọi người sẽ nhìn cậu với ảnh mắt kì lạ. Khi cậu vào thi đấu trong giải NBA, không phải lúc nào cậu cũng chơi bài với các đồng đội của mình. Vài người sẽ giả định cậu đang không là một người đồng đội tốt. Thậm chí cậu còn phải trì hoàn việc gia đình để hoàn thành công việc của mình.

Phần lớn thời gian, cậu sẽ cô đơn.

Sự cô đơn sẽ không làm cậu được yêu thích. Có những người sẽ không bao giờ chịu hiểu. Liệu có đáng không?

Chỉ có cậu mới trả lời được.

Bây giờ mình phải là ai?

 Ngày mai khi cậu leo lên xe buýt đến trường ở Nam Carolina, cậu sẽ phải chọn.

Mỗi ngày cho đến hết đời, cậu sẽ phải chọn.

Cậu có muốn được thuộc về nhóm nào, hay cậu muốn bắt đầu cuộc theo đuổi đầy cô đơn của sự vĩ đại?

Tôi viết cho cậu hôm nay với tư cách một người đàn ông 41 tuổi sắp nghỉ thi đấu bóng rổ. Tôi viết cho cậu với tư cách một người đàn ông hoàn toàn bình an với bản thân.

Thứ địa ngục cậu trải qua khi xuống khỏi xe buýt sẽ chỉ là tạm thời. Bóng rổ sẽ đem cậu đi xa khỏi cái sân trường ấy. Cậu sẽ trở thành nhiều hơn là một cầu thủ bóng rổ. Cậu sẽ được đóng phim. Cậu sẽ đi du lịch thế giới. Cậu sẽ thành một người chồng, và một người cha của năm đứa trẻ tuyệt vời.

Bây giờ, câu hỏi quan trọng nhất cuộc đời cậu không phải, “Mình nên trở thành cái gì?”, hay, “Mình cần làm gì để vô địch một lần nữa?”

Câu hỏi đó là, “Bố ơi, bố đoán xem hôm nay chuyện gì xảy ra trong lớp toán?”

Đó là phần thưởng chờ đợi cậu ở cuối con đường.

Đến sân bóng rổ. Ở lại sân bóng rổ.

Tập luyện hăng say đi, cậu trẻ.

Phần lớn mọi người sẽ không bao giờ được thực sự biết đến cậu. Nhưng họ sẽ biết đến công việc của cậu.

Screen Shot 2017-03-09 at 2.17.05 AM.png

[1] “play transition”

[2] Không biết dịch thế nào cho nó hay, mình quyết định để nguyên văn. Showtime = Đến Giờ Diễn

[3] Division I Sports https://en.wikipedia.org/wiki/NCAA_Division_I Cấp độ cao nhất có thể của thể thao đại học Mỹ, và thường một phần không nhỏ các cầu thủ trong phân nhóm này trở thành vận động viên chuyên nghiệp.

[4] “Oh, this game is a sonofabitch”

[5] “Hall of Famers”