5

IFHTP


Leave a comment

Dịch: On Creativity – Isaac Asimov

Leisurely translation, from Asimov’s essay, How Do People Get New Ideas, found on MIT tech review. Naturally this has been a point of interest for me, as to how people innovate.

I remember reading some great stuff on creativity from Doug Hofstadter’s Metamagical Themas, but sadly I no longer have the book with me to do a proper translation. This one has been something popularized to the startup folks. More for-fun translations will follow this one.

____________________________________________________

Isaac Asimov Hỏi: “Làm thế nào để có ý tưởng mới?”

Note từ Arthur Obermayer, bạn của tác giả:

Năm 1959, tôi làm nghiên cứu ở doanh nghiệp Allied Research Associates ở Boston. Công ty này là một phát sinh từ trường MIT mà ban đầu tập trung vào các ảnh hưởng của vũ khí hạt nhân lên các cấu trúc máy bay. Công ty nhận một dự án với tên tắt là GLIPAR [1] (Chương Trình Nhận Dạng Đường Dẫn cho các Nghiên Cứu Chống Tên Lửa) từ Cơ Quan Các Dự Án Nghiên Cứu Nâng Cao [2] để hình thành những cách tiếp cận sang tạo nhất có thể cho một hệ thống phòng thủ tên lửa ballistic. Chính phủ (Mỹ) nhận ra rằng không có một lượng ngân sách nào được bỏ vào phát triển và cải tiến công nghệ hiện tại là đủ. Họ muốn chúng tôi và những nhà thầu khác phải suy nghĩ đột phá hơn. [3]

Khi tôi mới tham gia vào dự án, tôi đã đề xuất Isaac Asimov, một người bạn tốt của tôi, tham gia cùng. Anh ấy bày tỏ sự sẵn sàng và đã đến tham dự một vài buổi. Sau đó anh quyết định không tham gia nữa, vì anh không muốn có tiếp cận đến bất kỳ thông tin mật cơ sở nào; nó sẽ làm giới hạn quyền tự do ngôn luận của anh. Tuy nhiên trước khi bỏ đi anh đã viết bài luận này về sự sáng tạo, đóng góp duy nhất của anh về cách tiến hành các buổi họp. Tiểu luận này không hề được xuất bản hay sử dụng ngoài nhóm của chúng tôi. Khi tôi tìm thấy lại nó trong lúc dọn dẹp các văn bản cũ, tôi nhận ra rằng nội dung của bài luận này vẫn còn thích hợp với ngày hôm nay như hồi anh viết nó. Bài luận mô tả không chỉ quá trình sang tạo và bản chất của những nhà sang tạo, mà cả kiểu môi trường khuyến khích sự sáng tạo.

***

Về Sự Sáng Tạo 

Có nhiều khả năng là quá trình sáng tạo, cho dù là gì đi chăng nữa, là bất biến trong tất cả các nhánh và các biến thể của sự sáng tạo, để đảm bảo rằng sự tiến hoá của một dạng nghệ thuật, một dụng cụ tiện ích, một quy luật khoa học mới, đều bao hàm những yếu tố tương đương. Chúng ta quan tâm nhiều nhất đến sự “sáng tạo” của một quy luật khoa học mới hoặc một áp dụng mới của một quy luật cũ, nhưng tôi sẽ nói theo hướng chung chung ở đây thôi.

Một cách tiếp cận vấn đề là hãy quan sát các ý tưởng lớn trong quá khứ và cách mà chúng được hình thành. Thật không may, cách thức mà các ý tưởng này được hình thành chưa bao giờ là rõ ràng với chính những người nghĩ ra chúng.

Ta phải hiểu thế nào về sáng tạo khi có cùng một ý tưởng đột phá cùng đến với hai người khác nhau, cùng một lúc và độc lập với nhau? Có lẽ, những yếu tố tương đồng trong quá trình sang tạo của hai người sẽ làm sáng tỏ vấn đề. Hãy xem xét thuyết tiến hoá qua chọn lọc tự nhiên đươc độc lập hình thảnh bởi Charles Darwin và Alfred Wallace.

Có rất nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều đi đến những nơi xa xôi, quan sát các loài thực vật và động vật kỳ lạ và cách thức chúng thay đổi tính chất theo từng vùng. Cả hai người đều cực kỳ quan tâm đến việc tìm một lời giải thích cho vấn đề này, và cả hai đều không tìm thấy gì cho đến khi họ tình cờ đọc được “Tiểu luận về Dân Số”[4] của Malthus.

Lúc này hai nhà khoa học mới nhận thức về việc bùng nổ dân số và tự đào thải (mà Malthus đã áp dụng lên con người) sẽ khớp với chủ thuyết tiến hoá qua chọn lọc tự nhiên (khi áp dụng với các loài nói chung)

Hiển nhiên, từ đây, ta có thể hiểu rằng điều cần thiết cho sự sáng tạo không chỉ là những người với một nền tảng tốt trong một ngành cụ thể, mà còn là những người có khả năng kết nối những thứ mà bình thường có vẻ không liên quan đến nhau.

Không có nghi ngờ gì rằng vào nửa đầu của thế kỷ 19 đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tự nhiên đã tìm hiểu về cách mà các loài khác biệt nhau như thế nào. Rất nhiều người khác đã đọc Malthus. Có lẽ sẽ có những người vừa học về các giống loài và vừa đọc Malthus. Nhưng chúng ta cần một ai đó vừa học về các loài, đọc Malthus, và có khả năng xây dựng một mối liên hệ giữa hai việc này.

Đây là điểm quan trọng, hay đặc tính hiếm có cho sự sáng tạo. Một khi mỗi liên hệ được xây dựng, mọi thứ trở nên hiển nhiên. Thomas H. Huxley được đồn là đã thốt lên, sau khi đọc Về Nguồn Gốc của Muôn Loài [5], “Tôi thật ngu ngốc vì đã không nghĩ đến điều này.”

Nhưng tại sao ông ấy lại không nghĩ đến nó? Lịch sử các ý tưởng của con người có vẻ tạo ra một ảo tưởng rằng thật khó để nghĩ ra một cái gì đó mới khi tất cả các thông số và tìm kiếm được trình diện đầy đủ. Việc xây dựng một mối liên hệ đòi hỏi một chút liều lĩnh. Phải như vậy, bởi vì mỗi một mối lien hệ mà không đòi hỏi liều lĩnh thì sẽ ngay lập tức được nghĩ đến bởi rất nhiều người, và sẽ phát triển không phải dưới dạng một “ý tưởng mới”, mà chỉ là “hệ luỵ của một ý tưởng cũ”.

Chỉ đến về sau thì một ý tưởng mới mới có vẻ hợp lí. Khi mới bắt đầu, một ý tưởng mới thường có vẻ phi lý. Đã có vẻ là đỉnh cao của sự phi lý khi cho rằng mặt đất có hình tròn chứ không phẳng, rằng nó di chuyển chứ không phải mặt trời di chuyển, hoặc rằng các đồ vật cần một lực cản khi chúng đang di chuyển, thay vì cần một lực để giữ chúng di chuyển, và vv.

Một người sẵn sàng vượt qua lý trí, vượt qua thẩm quyền, và vượt qua lẽ thường phải là một người có lòng tự tin lớn. Bởi vì hiếm khi một người như vậy xuất hiện, anh ta nhất thiết phải có vẻ lập dị (ít nhất trong khía cạnh sang tạo đó) so với tất cả mọi người. Một người lập dị ở một khía cạnh thường sẽ lập dị ở những khía cạnh khác.

Hậu quả là, một người có nhiều khả năng có các ý tưởng mới nhất là một người có nền tảng tốt trong ngành cần sáng tạo, và là một người có các thói quen khác thường. (Tuy nhiên, chỉ là một quái nhân thì không đủ)

Một khi đã có những người ta cần, câu hỏi tiếp theo là: chúng ta có muốn tập hợp họ lại để họ trao đổi về vấn đề cùng nhau, hay ta nên đưa cho họ vấn đề và để mỗi người làm việc biệt lập.

Cảm nhận của tôi là miễn sao có liên quan đến sáng tạo thì sự biệt lập là cần thiết. Con người sang tạo, trong mọi trường hợp, là người nghĩ về nó không ngừng nghỉ. Tâm trí của anh ta nhảy giữa các thông tin ở mọi lúc, kể cả khi anh ta không nhận thức được nó. (Câu chuyện về việc Kekule nghĩ ra cấu trúc của benzene trong lúc ông đang ngủ khá là nổi tiếng.)

Sự hiện diện của những người khác chỉ có thể cản trở quá trình này, do sự sáng tạo vốn gây xấu hổ. Với mỗi một ý tưởng tốt ta có, sẽ có hàng trăm, hàng vạn ý tưởng ngu ngốc mà ta đương nhiên không muốn kể ra.

Tuy nhiên, một cuộc gặp gỡ giữa những nhà sáng tạo nên được mong đợi bởi những lý do nằm ngoài bản thân sự sáng tạo.

Không có hai người nào có kho các ý tưởng giống y hệt nhau. Một người có thể biết đến A và không phải B, một người khác thì biết B và không phải A, và khi mỗi người biết cả A và B có thể cả hai sẽ nghĩ ra ý tưởng mới—nhưng không nhất thiết là ngay lập tức, hay thậm chí là trong một thời gian ngắn.

Hơn nữa, thông tin được lưu trữ trong tâm trí không chỉ đơn giản là những khái niệm độc lập A và B, mà có thể là những tổ hợp như A-B, và có thể những mối liên hệ này không có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, nếu một người nhắc đến tổ hợp khác thường A-B, và một người khác nhắc đến tổ hợp khác thường A-C, có thể tổ hợp A-B-C mà lúc đó chưa ai nghĩ ra mới là câu trả lời.

Vì vậy với tôi có vẻ mục đích của các buổi trao đổi sáng tạo không phải là để nghĩ ra ý tưởng mới, mà là để giới thiệu mọi người với các khái niệm và các tổ hợp khái niệm, với các lý thuyết và các suy nghĩ rời rạc.

Nhưng làm thế nào để thuyết phục những người sáng tạo làm điều này? Trước hết, ta cần phải có sự dễ dàng, thoải mái, và sự chấp nhận lẫn nhau. Thế giới nói chung thường đi ngược với sự sáng tạo, và để sáng tạo trước đám đông thì đặc biệt tệ hại. Kể cả phỏng đoán một cách công khai cũng là một động thái dễ gây lo ngại. Bởi vậy các cá nhân tham gia buổi họp nói trên cần phải có cảm giác rằng những người khác sẽ không chối bỏ mình.

Nếu một cá nhân không có khả năng thông cảm với sự ngu ngốc mà sẽ tất nhiên phát sinh ở một buổi họp như trên, những người khác sẽ bị chững lại. Cá nhân không thông cảm này có thể là một mỏ vàng các thông tin, nhưng sự phá hoại mà anh ta mang đến sẽ vượt qua khả năng đóng góp của anh. Vì vậy, với tôi thật cần thiết rằng tất cả mọi người cần sẵn sàng chấp nhận sự ngu ngốc của chính mình, cũng như chấp nhận lắng nghe sự ngu ngốc từ người khác.

Nếu một người tham gia buổi họp có danh tiếng hơn, hoặc giỏi diễn đạt hơn, hoặc có một tính cách mạnh mẽ và dẫn dắt hơn mọi người, anh ta có khả năng sẽ chiếm lấy cả buổi họp và hạ những người còn lại thành không hơn gì một sự vâng lời thụ động. Cá nhân đó có thể vô cùng hữu dụng, nhưng chúng ta thà để anh ta làm việc độc lập, vì anh ta lúc này đang vô hiệu hoá tất cả những người còn lại.

Số lượng người tham gia một buổi họp này có lẽ sẽ không nhiều. Tôi phỏng đoán là không nhiều hơn năm người sẽ là số lượng vừa đủ. Một nhóm đông hơn có thể cung cấp một lượng thông tin lớn hơn, nhưng sẽ có căng thẳng từ việc chờ đến lượt nói, điều này cũng gây bực mình. Có lẽ sẽ tốt hơn nều có vài buổi họp mà những người tham gia sẽ thay đổi, thay vì có một buổi có tất cả mọi người. (Điều này sẽ tạo ra một chút lặp lại, nhưng chính sự lặp lại này cũng không đến mức bất tiện. Chúng ta không quan tâm nhiều đến những điều được nói ra trong các buổi họp này bằng những cảm hứng sẽ được gây nên trong mỗi người sau này.)

Để tiện lợi nhất, buổi họp nên có cảm giác không quá nghiêm túc. Thái độ vui vẻ, việc sự dụng tên vắn, việc nói đùa , sự thoải mái bỡn cợt, theo tôi, là cần thiết—không phải bởi chính bản thân chúng, mà vì những điều này khuyến khích mong muốn tham gia vào những điên rồ của sự sáng tạo. Ví mục đích này tôi cho rằng một buổi họp ở nhà của ai đó hoặc trên một bàn ăn trong nhà hàng sẽ tốt hơn là ở một phòng họp hội thảo.

Có lẽ gây hạn chế nhiều hơn bất kì cái gì là cảm giác về trách nhiệm. Các ý tưởng lớn của thời đại đều đến từ những người không được trả tiền để nghĩ ra các ý tưởng, họ chỉ được trả tiền để làm các nhà giáo, những nhân viên cấp bằng sáng chế [6], hay những viên chức nhỏ bé, hoặc họ không được trả xu nào. Các ý tưởng vĩ đại đến dưới dạng các vấn đề ngoài lề.

Cảm giác tội lỗi từ việc cảm thấy không xứng đáng với mức lương của mình do bản thân chưa có một ý tưởng tốt là cách chắc chắn nhất, với tôi, để đảm bảo rằng sẽ không có một ý tưởng tốt nào đến sau này.

Thế nhưng công ty của chúng ta lại đang tiến hành một chương trình họp trao đổi sáng tạo [7] trên tiền của chính phủ. Cảnh những nghị sĩ hoặc công chúng nghe về các nhà khoa học lãng phí thời gian, tiêu phí tài nguyên, đùa cợt bậy bạ trên ngân sách nhà nước thật dễ gây toát mồ hôi. Thực ra, nhà khoa học trung bình có đủ nhận thức về công chúng để không muốn làm việc này kể cả khi không có ai biết về nó.

Tôi muốn đề xuất rằng các thành viên của một buổi trao đổi sáng tạo được giao những việc đơn giản, “ngồi chơi xơi nước” để làm—các thông báo ngắn, tóm tắt các kết quả khoa học, hoặc các câu trả lời vắn tắt cho các vần đề được nêu ra—và được trả tiền cho những việc này, phần lương này sẽ chính là phần tiền thường được trả cho các buổi họp trao đổi sáng tạo trên tiền ngân sách chính phủ. Bản thân các buổi họp cần được miễn phí trên giấy tờ, và việc này cũng sẽ tạo điều kiện cho một sự thư giãn đáng kể.

Tôi không cho rằng các buổi họp sáng tạo này không cần sự hướng dẫn. Phải có một ai đó đứng ra dẫn buổi họp, và đóng vai trò giống một nhà trị liệu phân tâm học. “Nhà trị liệu” này, theo như tôi hiểu, bằng cách hỏi những câu hỏi đúng đắn (và ngoài việc hỏi này thì can thiệp ít nhất có thể), đảm bảo những “bệnh nhân” của mình có thể trao đổi về cuộc đời của họ để gợi ra một cách hiểu mới về nó trong mắt nhà trị liệu.

Tương tự, một người trọng tài trong buổi họp nói trên sẽ cần ngồi đó, kích thích tinh thần [8], hỏi những câu hỏi mưu mẹo, đưa ra những lời bình luận cần thiết, và tập trung vào trọng tâm vấn đề một cách nhẹ nhàng. Vì người trọng tài sẽ không biết câu hỏi nào mới là thông minh, lời bình luận nào là cần thiết, và vấn đề chính là gì, việc của anh ta sẽ không hề đơn giản.

Về các “dụng cụ” được thiết kế để khơi gợi sự sang tạo, tôi nghĩ chúng nên được phát sinh từ chính những cuộc họp không chính thức này. Nếu được thư giãn, được giải thoát khỏi các trách nhiệm, và được trao đổi những vấn đề họ quan tâm, những người tham gia sẽ tự tạo ra những công cụ để kích thích việc trao đổi.

Published with permission of Asimov Holdings.

***

[1] Guide Line Identification Program for Antimissile Research

[2] Advanced Research Projects Agency

[3] “think out of the box”

[4] “Essay on Population

[5] “On the Origin of Species

[6] Ám chỉ đến Einstein, người đã phải làm một nhân viên cấp bằng sáng chế trong suốt 2 năm sau khi tốt nghiệp.

[7] Bản gốc tác giả dùng “cerebration sessions”, có thể dịch là các buổi động não, nhưng nghe hơi thô, nên tớ sẽ đổi thành như trên. Các buổi họp sáng tạo = cerebration sessions.

[8] “kích thích những con thú” (trong mỗi người?) = “stirring up the animals”


Leave a comment

the canvas

Thank God for the transformative ink, thank my friend for inspiring me with the whim, and thank na for working on the design, you-I have my gratitude 

__________________________________

Lăn Tăn Của Mực

những mảng đen: lồi lõm nhấp nhô trên da

rụng

mực: cá chép nửa chết, ép khô; những cái cổng; sự khơi gợi cho những miền chưa-đen

nghĩ thật kĩ trước khi quyết định

nhưng nào có gì là quyết định nghĩ-kĩ

quyết định là quyết định

gương: từng đốm đen lăn tròn trên những phần còn lại

đâu là tôi, và đâu là nó, đâu là đâu

ánh sáng đập ngược vào con mắt, hình ảnh là ảo giác

câu nói dối của ngày: “một phần của tôi đã chết”

đúng hơn một chút: “chết là một phần của tôi”

đúng nhất: “sống, chết, tôi, không-tôi”

đúng-sai: “là”

đừng ăn đồ nóng, đừng tắm, đừng ra ngoài nắng

hấp thu những phần không-tôi

 

thở, hít thật sâu, phả ra thật chậm

hít thật sâu, phả ra thật nhanh ngừng thở cho đến lúc không còn suy nghĩ gì nữa ở đây không ai có thể tìm thấy tôi

 

 

 


Leave a comment

Conversations on Living #4

S: Productivity cho robot thui
    Mình là ng mà
    Thấy k đến thời điểm làm đc thì thui
B: even robots fail
    giống cái kiếm gãy
    maybe vẫn nhặt về thái thịt được
S: Nếu kiếm sinh ra chỉ dùng để tự vệ thì dùng dao cũng đc nhỉ
    Đằng nào cũng thế =))
B: ko, kiếm sinh ra để làm kiếm
   vậy thui
   người thợ rèn đâu có nghĩ nó sinh ra để làm gì
   người mua cũng không
S: Uhm nhưng ng cầm vào thì dễ dùng để chém ng
B: ở tận đẩu tận đâu xa lắc xa lơ có một người sẽ nghĩ kiếm sinh ra để tự vệ
     but not its direct creators
     everything is flow
     thỉnh thoảng đi ị ấy, thấy phòng tắm có mấy cái góc bẩn bẩn
     nghĩ, trời, thế giới thật là detailed
     tuyệt