5

IFHTP

zen

1 Comment

Bình thường thì tui rất ghét dùng từ thiền, vì nó được dùng bởi quá nhiều người và mỗi người hiểu nó một kiểu. Bên cạnh đó, khi nói “tớ đi học thiền” thì lập tức tạo ra một cái khoảng cách và đỡ phải giải thích nhiều thứ với người khác [0], vì tự từ thiền đi kèm với nó một cái dải những thứ hipster khác của thế hệ này. Nhưng Thiền là cái gì?

Khi người ta nói với tui là họ đã thử thiền, nhưng không thể nào tập trung được, tui cũng không biết trả lời thế nào, và thường cuộc nói chuyện sẽ nhảy sang một chủ đề khác. Vì tui chưa bao giờ thật sự “tập trung” thiền cả. Và còn không biết các bạn ấy thiền kiểu gì. Nếu tui cố gắng bán hàng đa cấp thiền là gì, thì cũng sẽ có quá nhiều hướng, và quá nhiều thứ, nên có lẽ cứ để mọi người tự mò đến những thứ họ cần. Bài viết này không định hình thiền là cái gì, nhưng ít nhất sẽ giải quyết một số vấn đề.

Trước khi tui biết thiền là gì, tui đã thiền: hồi còn 5 tuổi, trong một lúc rất thích thú với những cái tế bào chết trong mắt sau khi nhìn vào ánh nắng quá lâu, cháu đã úp mặt lên bàn và cứ dứ dứ như vậy nhiều phút đồng hồ và thấy lóng lánh lởn vởn hoa hoè hiện ra trong đầu. Và đồ rằng tất cả mọi người khác cũng như vậy.

Ý tui là, ở một mức độ cơ bản nhất, việc sử dụng khái niệm “thiền” chỉ là một cách hô hào để hướng mọi người đến việc cảm nhận. Cảm nhận, nhưng không đánh giá, và không gọi tên nó. Ra đường ăn một món ăn thì thấy ngon, và nếu công phu thì có thể viết một bài review với những từ ngữ sẵn có. Cay, đắng, mặn, ngọt, chua, xốp, mềm, giòn, dẻo, bùi, mịn màng, thanh thanh, hăng hắc, sền sệt, ngào ngạt, điếc mũi, rưng rức, tong tỏng, rồn rột, thần thánh, trần tục, cháy đượm, nguội lạnh, tươi mát, chín tới, sông sống, vân vân và vân vân. Nhưng, từ ngữ không đủ để lột tả, và cuối cùng để thực sự đắm mình trong sự cảm nhận và thưởng thức, thì ta không cần nói gì nữa. Thậm chí cũng không cần nghĩ gì nốt. Và sống trong cảm nhận đó, đây là cái thiền chỉ đến.

Ăn và trân trọng sự ăn, đó là thiền. Rộng hơn, sống và trân trọng sự sống, đó cũng là thiền.

Nhưng vì vậy, khi tự gọi mình là thiền sư, hoặc gọi việc mình làm là thiền hay có tính thiền, người ta đã tự tạo ra một sự phân biệt không cần thiết, và một kiểu vướng bận với mô tả mùi vị sắc thái của công việc, mà không toàn tâm toàn ý vào việc đó.

Thiền cũng có thể để nói về hoạt động ngồi xuống và làm cái quái gì đó. Làm gì cơ? Có một cái App cho việc thiền kiểu này tên là Headspace, có chia thiền ra làm hai loại: thiền quán và thiền định, hay còn gọi là insight meditation và calming meditation. Insight, vì anh thiền để khám phá, để quan sát, để nhìn, và với bất kì một đối tượng nào. Thiền chỉ là một sự quan sát. Từ tiếng anh của thiền là meditate, ở cái nghĩa gốc gác của nó, đấy là sự suy nghĩ và liên tưởng về một vấn đề. Có một tập hợp các quan sát của hoàng đế La Mã Marcus Aurelius được lấy tên là Meditations, và trong đó bác đầy những sự liên tưởng và suy nghĩ về cuộc đời, về sự sống, và về quốc trị. Còn Calming, vì thay vì quan sát, thì anh tập trung vào một cái trụ nào đó, và cố gắng giữ nó bình ổn: hơi thở bình ổn, hình ảnh về tượng Phật hay bông hoa sen hay cục kít bình ổn, và vân vân. Túm lại là quan sát và tập trung, nghe quen không? Sao phải gọi là thiền nữa?

“Quan sát” và “tập trung” cũng không phải hai thứ tách biệt nhau đến thế. Rất khó để lôi tớ ra khỏi giường nếu tớ đang lúi húi tai nghe và Netflix Sense8 (season 2 coming soon!). Trong việc quan sát một thứ, tất cả những biến thể mới của nó, cũng tiềm ẩn sự tập trung. Và tiềm ẩn trong tập trung? Không ai có thể ngồi làm một bài toán từ đầu đến cuối mà không mường tượng từng các hướng giải, từng vấn đề nhỏ cần được giải quyết chi tiết và có logic. Trong quán có định, và trong định có quán.

Sự song song này còn có thể nhìn qua một lăng kính khác, khi Osho nói về việc người ta đi đến giác ngộ qua một trong hai con đường–tình yêu và nhận thức, nhưng khi gần đến đỉnh thì hai con đường đó bắt đầu chụm lại, và những người đi đường gần gũi với nhau hơn. Sự tập trung bắt nguồn từ tình yêu–dù có thể là tình yêu cấp thấp, chính là ham muốn, hay một thứ tình yêu quảng đại cứu thế giới và sinh ra những tầm nhìn và những thành quả lớn lao hơn.

Hai con đường của Osho giống ẩn dụ hơn là một hiện thực. Người ta không nhất thiết phải làm một ông sư thầy để đi theo con đường nhận thức. Người ta không phải làm con chiên ngoan đạo để đi theo con đường tình yêu. Những con đường-giá trị này ẩn hiện trong từng ngóc ngách của các lựa chọn cuộc đời, và các nền văn hoá. Một trong những ảo tưởng lớn của một số cháu Châu Á có biết về các ý tưởng phương Đông là phương Tây không có thiền, người ta không biết thiền, không biết quan sát bên trong. Có một anh bạn ở Mỹ của tui đã từng than giời là có một con bé Việt Nam làm presentation trong lớp về meditation, và anh thấy con bé nói như thể cả thế giới mù loà vậy. Thực ra, từ “thiền” khá là vô nghĩa, việc gọi tên nó chỉ giúp người ta định hình suy tưởng theo một số hướng mà thôi, không có sự phân biệt rõ ràng giữa sự “thiền” và những sự không-thiền khác, hoặc có có như trong presentation của cô gái kia, thì nó cũng là hời hợt.

Có một điều ít được biết đến, là rất nhiều ý tưởng bắt đầu từ nền tâm linh của phương Đông đã thẩm thấu sang phương Tây từ lâu nay, nhưng được xáo trộn và tô màu lại để hợp với những nền tảng phương Tây. Nhà văn Hermann Hesse đã từng nhảy nhót giữa những ý tưởng của triết học Ấn Độ [1], và Theosophy [2]. Kết quả là Siddhartha, tác phẩm được biết đến nhiều nhất của cụ–nhưng thật thà mà nói, những ý tưởng này len lỏi đến tất cả những tác phẩm khác. 3 ngoại truyện trong The Glass Bead Game đọc như 3 câu chuyện tiền kiếp. Luẩn quẩn trong nhiều ngóc ngách khác, người ta có thể tìm thấy những mẩu vụn vặt của những vấn đề tâm linh qua Freud, và sau này là Critical Theory mà nhiều người học văn vẫn đang đào bới. Dĩ nhiên, ở một khía cạnh nào đó, tất cả những thứ gần với tâm linh hơn đều được đẩy xa dần khỏi khoa học–có lẽ là tinh tuý của phương Tây. Freud không còn là cái gì nghiêm túc trong giới Tâm Lý Học, mà nó đã tràn lan sang các phân tích văn học và triết học. Nietzsche và eternal returns của ổng có mùi vị của bánh xe luân hồi trong Phật giáo (và thực ra là Indian metaphysics). Nhưng sự phân hoá giữa các miền kiến thức này cũng là một tính chất cơ bản của phương Tây mà phương Đông không có. Xã hội học và văn học, vẫn được tán tụng bởi những nhà giáo dục, là nền tảng cho một cuộc sống cân bằng. Dĩ nhiên, ở phương Đông người ta không có sự gọi tên rành rọt như thế này. Một người thầy thuốc Đông Y giỏi sẽ quan tâm đến các khái niệm về tinh thần, về khí, về ngũ hành, và về sự kết nối với thiên nhiên. Một người bác sĩ Tây y sẽ chỉ biết, cùng lắm, là lên danh mục các chất cần cho một thực đơn lành mạnh–nhưng bản thân họ không hoàn toàn là những minh chứng sống cho sự sống lành mạnh. Người ta biết về khoa học của cơ thể vật lý, nhưng những vấn đề cơ bản của khoa học về sự sống vẫn chưa được trả lời

Bên cạnh đó, ở phương Tây có những phong trào về tâm linh và kết nối tinh thần có thể nói là vượt trội so với những thứ tôn giáo và mê tín dị đoan cầu cạnh ở phương Đông. Reiki, và Astrology đều mang những màu sắc mới khi du nhập sang Mỹ, và New Age Spirituality là một gói thập cẩm những thứ thú vị mà không có nhiều vướng bận với các sự mù quáng tôn giáo–của những phần tử Hồi Giáo cực đoan bấy lâu nay, hay gần đây là Pháp Luân Công [3] chẳng hạn.

Người tốt có thể sửa được những ý tưởng tồi, nhưng người tồi thì ý tưởng tốt mấy cũng không cứu được. Có thể tổ chức và đóng hộp thiền là một khái niệm, hoặc một xu hướng chỉ có ở phương Đông, nhưng nó không có nhiều ý nghĩa lắm, nếu không có thấu hiểu và trải nghiệm cá nhân. Trên một phương diện tích cực, sự sáng tạo giá trị mới có thể xảy ra ở bất kì đâu. Nhưng không phải trong hời hợt về nhận thức hay mù quáng niềm tin.

Và sống ở đâu cũng được, vì những thứ mình cần sẽ đến với mình, chỉ là theo những hình thù khác nhau.

[0] “Tớ đi tìm lại mình”/ “Tớ chán đời”/ “Tớ muốn bớt thần kinh” nghe yếu đuối hơn là “tớ đi học thiền”.

[1] để gọi cái thứ này là “triết học” cũng không hợp lí lắm, nhưng dùng tạm

[2] xin phép không dùng tên tiếng Việt thông dụng của nhóm này, Thông Thiên Học, vì tui thấy nó kệch cỡm, và cũng không sát nghĩa. Tui đã có một người bạn, vì đi theo một nhân vật giao giảng thông thiên học, mà tẩu hoả nhập ma, và lăn lóc chữa đến giờ chưa khỏi hẳn. Nhân vật giao giảng nói với bạn tui những câu kiểu như là “thôi, con đường tâm linh của em đến đây là vứt đi rồi, em sẽ không bao giờ lấy lại được những gì đã mất đâu.” Hớ, giờ lại có lớn đùng đùng rồi đi chùi đít nhau hén?

[3] Tui sẽ không coi Pháp Luân Công là một cái tốt đẹp, chỉ vì nó bị bắt nạt bởi một chính phủ được coi là xấu xa và vi phạm quyền con người. Chỉ cần đọc website của Falun Dafa để có thể thấy sự mu muội của nó, nhưng có lẽ để dành một bài khác cho vụ này. Và hãy tự hỏi: sau khi có vụ nội tạng của Giang Trạch Dân với Pháp Luân Công, thì Pháp Luân Công thực sự lụn bại, hay là nó còn trở nên nổi tiếng và phổ biến toàn cầu hơn?

Advertisements

Author: oligothoughts

poetic hermit

One thought on “zen

  1. Pingback: zen: những màu sắc #1 | 5

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s